THỜI TIẾT

Westminster, CA (05/20/2012- 05/24/2012) 

Chủ Nhật (05/20/2012)

partlycloudy 82° | 57°

Trời nắng có mây ; Nhiệt độ 81-85 độ; gió tây nam 5-10 mph . Ban đêm 58-63 độ; gió nhẹ 5 mph.

Mặt Trời Mọc : 5 giờ 48 phút sáng
Mặt Trời Lặn : 7 giờ 52 phút chiều

Thứ  2 (05/21/2012)

partlycloudy 84° | 59°

Trời nắng có mây ; Nhiệt độ 82-85 độ; gió tây nam 5-10 mph . Ban đêm 58-63 độ; gió nhẹ 5 mph.

Mặt Trời Mọc : 5 giờ 47 phút sáng
Mặt Trời Lặn : 7 giờ 52 phút chiều

Thứ  3 (05/22/2012)

partlycloudy 81° | 61°

Trời nắng có mây ; Nhiệt độ 78-85 độ; gió tây nam 5-10 mph . Ban đêm 59-63 độ; gió nhẹ 5 mph.

Mặt Trời Mọc : 5 giờ 47 phút sáng
Mặt Trời Lặn : 7 giờ 53 phút chiều

Thứ  4 (05/23/2012)

clear 81° | 59°

Trời nắng ; Nhiệt độ 78-83 độ; gió hướng tây bắc 5-15 mph đổi sang tây nam vào buổi trưa . Ban đêm 57-61 độ; gió nhẹ 5 mph.

Mặt Trời Mọc : 5 giờ 46 phút sáng
Mặt Trời Lặn : 7 giờ 54 phút chiều

Thứ  5 (05/24/2012)

clear 72° | 57°

Trời nắng ; Nhiệt độ 70-74 độ; gió tây nam 5-15 mph . Ban đêm 55-60 độ;gió đông nam 5-10 mph.

Mặt Trời Mọc : 5 giờ 46 phút sáng
Mặt Trời Lặn : 7 giờ 55 phút chiều

THUA ME – GỠ BÀI CÀO

                        

Bài viết của Nguyễn Văn Nam riêng tặng Ô.Phan Kỳ Nhơn và LUB chống CS và Tay Sai

 

Qua bức thư ngỏ đề ngày 04-05-12 gửi cho Ông Phan Kỳ Nhơn và Liên Ủy Ban phối hợp chống Cs & Tay sai và UB chống tuyên vận Cs, ký tên 8 vị “La Hán” đại diện cho  Chùa Điều Ngự, người dân chống Cộng Nam Cali bỗng nực cười khi nhìn thấy rõ mưu đồ của bọn việt gian tay sai đang ẩn núp phía sau tôn giáo để cố tình xuyên tạc, xách động các sư tăng và tín đồ Phật giáo nhẹ dạ, thiếu cảnh giác vào âm mưu thâm độc của bọn nằm vùng để gây chia rẽ CĐ người Việt tị nạn CS.

 

Nỗ lực của bọn việt gian là dùng nghị quyết 36 để tuyên vận, để làm phai lạt và nhẹ đi ý nghĩa đau thương của ngày 30 tháng Tư khi cùng một lúc chúng mua chuộc, xúi dục các bầu shows, các nghệ sĩ ham danh, hám lợi tổ chức một số sinh hoạt văn nghệ vui chơi giải trí vào đúng dịp cuối tháng Tư đen như kiểu nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn đã làm bên trời Âu và bị cả khối tị nạn hải ngoại lên án nặng nề. Đồng thời tại Nam cali, cái nôi của người Việt tỵ nạn, chúng cũng len lỏi vào một số chùa chiền để xúi dục tổ chức đại lễ Phật Đản qui mô, “hoành tráng”  vào đúng cuối tháng Tư đen! Qua sư việc này, chúng cố tình nắn gân xem người  Quốc gia chống Cộng có dám lên tiếng chống đối hay không? Nếu không thấy có phản ứng nào dữ dội từ các tổ chức chống Cộng, bọn tay sai nằm vùng sẽ  được đằng chân, lân đằng đầu trong những ngày sắp tới.

 

Mùa Quốc Hận năm nay, không biết vì lý do nào, một vài ngôi Chùa tại Nam Cali, lại tổ chức đại lễ Phật Đản rất qui mô vào đúng dịp cuối tháng Tư đen là điều khá kỳ lạ ! Vì ngày đại lễ Phật Đản diễn ra vào ngày 5 tháng 5 – 2012  chứ không phải vào cuối tháng Tư đen như một vài vị sư đã lên đài chống chế!  Nếu quả thật có bàn tay của Việt gian nhúng vào việc xúi bẩy mưu toan vô hiệu hóa các vụ tưởng niệm biến cố 30 tháng Tư của ngươì Việt tị nạn thì phải khen là mưu của bọn Việt gian tay sai quá ư là thâm độc vì chúng tin chắc  rằng sẽ chẳng có ai dám lên tiếng, dám hó hé đá động đến việc này vì nó liên quan đến tôn giáo. Có gan nuốt búa cũng chẳng dám  gồng mình đụng vào chùa chiền hay nhà thờ vì chắc chắn sẽ bị chụp mũ là đánh phá tôn giáo, xúc phạm niềm tin của Phật giáo đồ…

 

Âm mưu đen tối của bọn Việt gian qua nghị quyết 36, là dần dần muốn biến tháng Tư đen thành tháng của lễ lạc vui tươi, ăn mừng chiến thắng qua các cuộc văn nghệ, vui chơi giải trí.

 

Mục đích của  bọn Việt gian thi hành nghị quyết 36, như mọi người đã từng chứng kiến, là dồn mọi nỗ lực để đánh phá, làm tan hàng, làm nản chí những người QG chống Cộng chân chính bằng những đòn thù như kiện cáo, như bêu xấu trên truyền thông, báo chí…! Những tổ chức chống Cộng đang bị bọn việt gian nằm vùng, dùng chiêu bài tự do báo chí để trù dập bằng cách đâm đơn kiện ra tòa án Mỹ, và nay chúng dùng chiêu bài tự do tôn giáo để thay phiên nhau xa luân chiến, chỉa mũi dùi đánh phá, triệt hạ các tổ chức đấu tranh vì dám lên tiếng chống việt gian và những hành vi tiếp tay thi hành nghị quyết 36 của CSVN!

 

Gần đây bọn Bắc bộ phủ và tay sai nhận thấy vụ đâm đơn kiện những người QG chống Cộng coi như việc “đánh bùn sang ao”, không hữu hiệu hề hấn gì, không làm  cho các tổ chức chống Cộng phải ngán ngẩm, phải kiệt quê, phải qui hàng, phải rút lui…. “Thua me, chúng bèn tìm cách gỡ bài cào”, chúng vin vào lá thư kêu gọi chung nhưng rất cần thiết và chính đáng của Liên Ủy Ban chống CS và tay sai nhắc nhở các bầu shows, các trung tâm băng nhạc, các tổ chức, hội đoàn QG và tôn giáo không nên tổ chức các buổi lễ lạc, có tính cách ăn mừng, vui tươi như đại lễ Phật đản hoặc các chương trình văn nghệ có tính cách vui chơi, giải trí vào cuối tháng Tư đen, là tháng tang thương của miền nam Việt Nam theo yêu cầu của CSVN là dần dần biến đau thương thành vui chơi giải trí!

 

Như đã đề cập ở phần trên một số người lấy danh nghĩa đại diện Chùa Điều Ngữ đã buộc tội cho Ô. Phan Kỳ nhơn và Liên Ủy Ban chống Cs và Tay sai là dám “xúc phạm đến niềm tin tôn giáo của Phật giáo đồ…” khi Liên Ủy Ban  đưa ra lời kêu gọi chung chung, qua vụ nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn và một số bầu shows đã tổ chức những chương trình ca, vũ, nhạc, kịch vào cuối tháng Tư đen tại Âu Châu và đã bị dư luận đồng hương hải ngoại lên án nặng nề. Trong lời kêu gọi này, thiện ý của Liên Ủy Ban là chỉ muốn nhắc nhở các Trung Tâm băng nhạc, các Trung Tâm giải trí, các Bầu shows, các Cộng đồng, các Hội đoàn cũng như các Tôn giáo nên tránh tổ chức các buổi lễ lạc có tính cách vui tươi, ăn mừng như đại lễ Phật Đản hoặc các chương trình văn nghệ vui chơi có tính cách giải trí, hài hước….vào những ngày cuối tháng Tư đen, là những ngày mà miền Nam VN rơi vào tay CS, chiến sĩ và đồng bào đã trải qua quá nhiều mất nát, đau thương tù đầy gian khổ, cha mất con, vợ mất chồng…và cũng chính vì biến cố tang thương 30 tháng Tư diễn ra trong tháng Tư Đen mà người Việt hải ngoại chúng ta đã phải tha hương, biệt xứ, tị nạn nơi quê người….”

 

Một số người cuồng tín đã dựa vào lời kêu gọi này để khích động những người QG nhẹ dạ không am tường sự thật, vô tình rơi vào mưu của chúng bằng cách cắt xén ngay 6 chữ “hoặc các chương trình văn nghệ vui chơi có tính cách giải trí, hài hước… ” để cố tình gán ghép, xuyên tạc cho Liên Ủy Ban là dám nói đại lễ Phật đản có tính cách vui chơi, giải trí, hài hước để kết tội cho Liên Ủy Ban là dám “xúc phạm đến niềm tin của Phật giáo đồ … 

 

Là những người con Phật, những 8 vị la hán đại diện cho chùa Điều Ngự, không biết do vô tình hay hữu ý lại  “đánh lận con đen”  khi cắt xén chữ nghĩa, mục đích để khích động rồi kéo nhau lên đài, giận dữ thách thức, xuyên tạc hồ đồ, đả phá gần như mắng chửi, làm giảm uy tín của những người chống thi hành chức năng chống Cộng tại Nam Cali.

 

Lòng sân hận chưa thỏa, nay các “đại nhân sĩ” cũng của Chùa Điều Ngự còn đưa ra một tối hậu thư yêu cầu Ông Phan Kỳ Nhơn và Liên ủy Ban chống Cs và Tay Sai phải rút ngay lời kêu gọi (chống nghị quyết 36 của CSVN) rất cần thiết và hết sức chính đáng nhằm nhắc nhở mọi người đừng rơi vào mưu Địch, quên biến cố đau thương 30 tháng Tư, để biến ngày Quốc Hận thành ngày lễ lạc vui mừng.

 

Chúng tôi không biết Ông Phan Kỳ Nhơn (nghe nói đang nằm bệnh viện ? ) và những vị trong Liên Ủy Ban  khi nghe những tin tức xuyên tạc, vu cáo, và ép buộc quí vị phải rút lại lời kêu gọi chống nghị quyết 36 vì lời kêu gọi này đã xúc phạm đến niềm tin của Phật giáo đồ…? Ông Nhơn và các thành viên của Liên Ủy Ban sẽ suy nghĩ ra sao? Quí vị sẽ cáo bệnh, sẽ chán nản? sẽ tan hàng, bỏ cuộc ?… để rồi các cuộc tranh đấu chống CS tại Nam Cali sẽ như rắn mất đầu, nằm ụ một chỗ? Hay là quí vị sẽ tiếp tục đấu tranh, không sờn lòng trước những đánh phá dữ dội của Địch đang âm mưu, lợi dụng truyền thông, các chương trình văn nghệ và cả tôn giáo, để lũng đoạn các cộng đồng hải ngoại qua nghị quyết 36?

 

Sau vụ kiện 33 người  đại diện các tổ chức đấu tranh của bọn Việt gian tay sai và vụ  xuyên tạc đánh lận con đen do ganh ghét sân si của một số nhân sĩ …..đánh võ miệng, nếu Ông Nhơn và quí vị trong LUB cáo bệnh để lui về, sao lãng việc đấu tranh, chúng tôi coi như quí vị đã gục ngã trước “họng súng” của quân thù, chùn bước  trước sự tiến công vũ bão của địch vào sinh hoạt CĐ. Nếu đúng như thế là quí vị đã chính thức dơ tay đầu hàng nghị quyết  36 để cho việt gian tay sai tha hồ hoành hành? 

 

Chúng tôi những người dân thầm lặng chống Cộng, luôn theo chân quí vị, trong các công cuộc chống Cộng suốt nhiều năm nay, chúng tôi sẽ mất hết niềm tin vào tương lai CĐ và công  cuộc đấu tranh chung. Tuy nhiên chúng tôi luôn luôn tin tưởng, “sau cơn giông Trời lại sáng” tại miền namCali. Chúng tôi  hy vọng và mến chúc ông Nhơn mau lành bệnh,  để cùng quí vị Liên Ủy Ban chân cứng đá mềm để tiếp tục lãnh đạo các cuộc đấu tranh chống CS và Tay Sai và chống  tuyên vận Cs tại Nam Cali đang ngày càng hoành hành qua nhiều tổ chức thân Cộng được cài đặt khắp nơi. Việt gian tay sai  đã không đánh gục được quí vị trong vụ kiện kéo dài hơn năm nay, chẳng lẽ vì một vài lời nói thiếu chín chắn, thiếu suy nghĩ của một thiểu số vô ý thức mà quí vị phải ngã quỵ là điều vô cùng bất hạnh cho Cộng đồng Nam Cali.  Chúng tôi không thể nào tin như thế được!

 

Nguyễn Văn Nam

Một nguời dân thầm lặng chống CS tại nam Cali

Nông dân thách thức nhà cầm quyền, bước đầu phong trào đối kháng?


 Võ Long Triều

 

Hai cuộc cách mạng trong lịch sử Âu Châu làm thay đổi bộ mặt chính trị của Tây phương, xẩy ra tại Nga và Pháp, do nông dân phẫn nộ khơi mào. Hai chế độ quân chủ khắc nghiệt, âm thầm tàn bạo, nhưng không công khai ác độc, gian manh, kết bè với bọn côn đồ, đàn áp nông dân, đánh đập đàn bà như cộng sản Hà Nội đang hành động tại Văn Giang. Thời kỳ đó Hoàng Đế chuyên chế thống trị bất kể hạnh phúc con dân. Nga Hoàng Tsar đệ nhứt và bọn quí tộc bóc lột sức lao động nông dân, áp đặt mức địa tô quá cao, nông nô không còn phương tiện sinh sống. Mọi sự chống đối đều bị kết tội nổi loạn, phải chịu tù đày chết chóc. Sự bất công và hà hiếp do quí tộc lộng hành khiến nông dân nổi dậy lật đổ chế độ giết vua và gia đình quí tộc.

Cũng do bất công xã hội, cũng vì tàn bạo với nông dân, bất cần đạo lý. Quốc Vương Pháp Louis XVI, vừa yếu hèn vừa nhút nhát. Các quan cận thần tường trình nguy cơ xẩy ra bạo loạn, nhà vua luôn miệng trả lời: “Tình thế rồi sẽ tốt…” (ca ira, ca ira..) chiếu theo khẩu trình của Cảnh Sát Trưởng Fouchet. Một tên đồ tể chỉ biết bắt bớ giam cầm, ngục Bastille không còn chỗ chứa. Tức nước vỡ bờ, khắp nơi nổi loạn kéo về cung điện Versailles bắt vua, phá ngục Bastille, đưa Vua và Hoàng Hậu lên đoạn đầu đài tại công trường Concorde.

Lịch sử đang tái diễn tại hai nước cộng sản Trung Quốc và Việt Nam. Nông dân không gánh chịu thuế nặng sưu cao mà bị công khai cướp đoạt quyền sinh sống, ruộng vườn đất đai từ bao đời ông cha để lại, ngang nhiên bọn cầm quyền đem cả ngàn quân đội công an và bọn côn đồ, trang bị súng ống, gậy gộc, đánh đuổi dân, cướp đất không cần bồi thường xứng đáng, buộc nông dân một sớm một chiều sống lang thang màn trời chiếu đất.

Tại Trung Quốc, nạn cướp đất trở thành phương tiện của bọn cầm quyền làm giàu phi pháp. Cường quyền cưỡng chế đất đai vì những lý do chính đáng và không chính đáng, xẩy ra khắp nơi trên toàn đất Trung Quốc. Sự đàn áp bất công khiến nông dân làng Ô Khảm, tỉnh Quảng Đông nổi dậy phản kháng mãnh liệt từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2011. Bọn cầm quyền không dám thẳng tay đàn áp sợ phản ứng dây chuyền nên đành chấp nhận cho dân làng tự do bầu cử người thay quyền và xử phạt bọn tham nhũng ác ôn.

Cái gương cưỡng chế đất đai của quan thầy Trung cộng, bọn cầm quyền Hà Nội lớn nhỏ thuộc nằm lòng. Từ bao nhiêu năm qua nông dân khắp ba miền Nam, Trung, Bắc gánh chịu nhiều bất công. Từ ngữ “dân oan khiếu kiện” trở thành phổ biến trên báo chí, truyền thanh, truyền hình trong và ngoài nước. Nông dân bị cướp đất biểu tình phản đối vô hiệu, bị đàn áp dã man, tuyệt vọng, cùng đường, có người liều chết tự thiêu trước cơ quan nhà nước chấp đơn khiếu kiện. Từng đoàn tập trung tố cáo đảng viên lạm quyền, vi luật, trước cơ quan đại diện nhân dân là Quốc Hội. Từng đoàn người “cắm dùi” qua đêm ngày, kêu oan. Bọn cường quyền phản ứng bằng cách đàn áp dã man gây thương tích cho người bất kể già trẻ, đồng chí hay kẻ thù.

Cũng tại Việt Nam, bọn cầm quyền huyện Tiên Lãng cưỡng chế gia đình ông Đoàn Văn Vươn ép bức đến cùng, buộc ông phản ứng bằng súng đạn và mìn tự chế. Nghĩa là thà chết hay chịu gông cùm, không chấp nhận bất công, hiếp người quá đáng. Sự việc xẩy ra bất ngờ và quan trọng vì chưa khi nào thấy sự phản kháng bằng súng đạn, xẩy ra dưới chế độ độc tài đảng trị có bàn tay sắt của công an cảnh sát và quân đội bảo vệ. Quan trọng đến nỗi báo chí thuộc “lề phải”, tay sai của nhà nước, cũng phải đồng thanh lên tiếng. Quan trọng đến nỗi thủ tướng phải can thiệp và khẳng định có sai trái, cựu Chủ Tịch nước Lê Đức Anh, người có đặc danh là “Thái Thượng Hoàng” phải nói: “Quân đội nhân dân, đàn áp nhân dân là sai!”. Trung Tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tư Lệnh Quân Khu 4, xác định ông từ chối không ra lệnh cho quân đội tiếp tay nhà cầm quyền địa phương cướp đất của nông dân bởi vì “chức năng của quân đội được đảng và nhà nước giao là để bảo vệ tổ quốc và nhân dân, đâu phải đưa bộ đội ra đề làm hại đến lợi ích của nhân dân”. Cho dù phản ứng của những đảng viên cao cấp từng giữ chức vụ quan trọng, bè lũ cộng sản Hà Nội đang cầm quyền vẫn tiếp tục cướp đất của nông dân, bán cho cơ quan thương mại tư bản Ecopark. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh lớn tiếng hỏi “nhà nước vì dân hay vì tư bản?”. Ông nói: “Hệ thống thủy lợi Bắc-Hưng-Hải tưới vùng đồng ruộng huyện Văn Giang, liên tiếp được mùa, nông dân có cuộc sống ấm no yên lành. Ecopark đem lợi gì cho quốc kế dân sinh?”.

Kinh nghiệm của huyện Tiên Lãng không cảnh cáo được nhà cầm quyền tỉnh Hưng Yên huyện Văn Giang. Lần nầy cuộc đàn áp xẩy ra còn qui củ hơn, nhà nước huy động khoản ba ngàn quân đội công an, cộng thêm bọn côn đồ mang danh “người dân bất bình can thiệp”, họ có nhiệm vụ cướp 72 mẫu ruộng của khoảng ba trăm gia đình đang sinh sống an lành, bỗng nhiên bị xua đuổi với sự đền bù 170.000 đồng mỗi thước vuông để bán lại cho Ecopark khoản 45 triệu đồng mỗi thước. Một vụ cướp cạn giữa ban ngày có nhà nước thị thực và tiếp tay. Nông dân càng chua xót bất mãn tột cùng khi thấy mồ mả ông cha bị cày ủi thành bình địa, phơi xương cốt giữa trời thảm khốc. Sự ác độc gian manh của các đồng chí cộng sản Hà Nội hơn quan thầy Bắc Kinh là ở chỗ đó!

Sau cơn uất hận trôi qua, nông dân ba xã Sân Quan, Cửu Cao, Phụng Công, cùng nhau ra đồng hai ngày 9 và 10 tháng 5, rào lại 72 mẫu đất để trồng cây cảnh và thu hoạch cùng nhau hưởng lợi. Quyết định liều lĩnh, công khai thách thức nhà cầm quyền Hà Nội, khơi mào cho sự hỗ trợ của bà con khắp nơi, họ sẽ đổ về Văn Giang đưa cây con về trồng tại đó. Cảm tình của quần chúng lan rộng tới Hà Nội. Có người đặt mua hàng trước khi thu hoạch. Rõ ràng một sự thách thức công khai, một phong trào chống đối hình thành, nhà cầm quyền hoặc đương đầu thẳng tay đàn áp đến đổ máu, hay đầu hàng hủy bỏ dự án.

Trong hai điều nói trên, nếu dân kiên trì tiếp tục chống đối bằng mọi cách, khai thác lòng căm phẫn, tinh thần chống đối của nhân dân thì sẽ là bước đầu của cuộc cách mạng “Hoa Lài” theo hình ảnh sự tự thiêu của chàng trai Bouazizi xứ Tunisie. Nhược bằng nhà nước cộng sản đầu hàng thì phong trào dân oan khiếu kiện sẽ tràn lan khắp xứ, đất đai bị cướp từ 20 mươi năm qua, làm thế nào nhà nước có thể đền bù hay hoàn trả được? Bài toán nan giải đó sẽ kéo đến ngày tàn của chế độ. Bởi vì ông bà ta thường nói “con giun xéo mãi cũng oằn” hay “tức nước sẽ vỡ bờ”.

Ba mươi bảy năm qua, cộng sản Hà Nội gây quá nhiều tội ác: Cướp đoạt quyền sống con người, đàn áp tôn giáo, bắt người vô tội, giam cầm vô cớ. Một chế độ hô hào do dân vì dân mà lại công khai phản bội dân trắng trợn, dứt khoát không thể tồn tại lâu dài bởi vì chính dân chúng sẽ đứng lên lật đổ nó giành lại quyền sống của con người. – (VLT)

Truyền Thông Hốt Bạc Bầu Cử

Vi Anh

 

Mùa bầu cử nói chuyện ứng cử viên, nói cử tri, nói đảng phái mà không nói đến truyền thông, không nói đến quảng cáo  tranh cử trên truyền thông – là thiếu, quá thiếu. Số tiền ứng cử viên bỏ ra để chi tiêu cho truyền thông là số tiền lớn nhứt. 

Một thóang thời sự về tiền bầu cử các ứng cử viên đã thâu và chi cho truyền thông. Chắc chắn TT Obama không thể kiếm được 1 tỷ Mỹ Kim cho quỹ vận động tái tranh cử. Theo tài liệu  công bố ngày 16/5,  tính đến hết tháng 4/2012, tổng thu tiền bầu cử của TT Obama là 239.6 triệu Mỹ Kim. Con số này ít hơn so với số tiền mà ông đã quyên góp được trong kỳ ứng cử 2008 và còn cách rất xa so với mục tiêu 1 tỉ Mỹ Kim mà chính ông Obama đưa ra

Đối thủ của ông Obama, ông Romney quyên được ít tiền hơn, trong tháng Tư 40 triệu  gần bằng số thu của TT Obama trong tháng này, vì Ông  Romney mới gây quỹ cho bầu cừ sơ bộ chớ chưa gây quỹ cho tranh cử tổng thống với TT Obama. Nhưng  ông Romney được  nhiều  tổ chức vận động tranh cử tư nhân (còn gọi là các Super PAC) ủng hộ nhiệt liệt. Các tổ chức này có thể bỏ ra hàng trăm triệu Mỹ Kim để mua quảng cáo trên truyền hình và đài phát thanh, chống lại ông Obama và đảng Dân Chủ. 

Chắc chắn TT Obama cũng phải dành một số tiền rất lớn để mướn các cơ quan truyền thông chạy quảng cáo bầu cử chống lại Ô Romney và Đảng Cộng Hòa để ăn miếng trả miếng.

Ngay trong nội bộ Đảng Cộng Hòa, các ứng cử viên cùng Đảng khi tranh nhau để được Đảng đề cử làm ứng cử viên tổng thống cho đảng Cộng Hòa, quí vị này cũng tốn tiền triệu triệu đô la cho truyền thông.

Điểm qua báo Mỹ New York Times và báo Pháp Le Monde, các Super PAC để ủng hộ gà nhà và đánh phá gà địch, tốn cho truyền thông đại chúng rất nhiều.  Tiêu biểu như  Super PAC vận động cho  Ô. Gingrich tốn cho truyền thông 11 triệu Đô. Còn Super-PAC  mất cho truyền thông 1 triệu 6  để vận động cho Ô. Santorum.

Còn ứng cử viên Mitt Romney, là người đựơc các Super PAC giúp đánh bóng cho Ông và bôi tro trét trấu đối thủ của Ông  trên truyền thông, tốn rất nhiều. 

TT Obama đặc biệt được giới triệu, tỷ phú điện ảnh ở Hollywood yểm trợ tốn cho truyền thông cũng rất nhiều để quảng cáo cho mình  và đả đối phương, nhứt là Ô. Romney. 

Cuộc bầu cử năm 2012 cuộc vận động chạy quảng cáo trên truyền thông còn đang diễn tiến, chưa có con số tốn kém  chung cuộc cho truyền thông. Nhưng chắc chắn nó sẽ lớn hơn năm 2010.

Thử  nhìn  lại số tiền các ứng cử viên tốn cho truyền thông Mỹ trong cuộc bầu cử ngày 2 tháng 11năm 2010 sẽ thấy rõ số tiền các ứng cử viên Mỹ dành để trả cho các cơ quan truyền thông là “phần ăn của sư tử”. Chi phí tranh cử dành cho truyền thông phát thanh, phát hình, báo giấy lên vượt kỷ lục so các kỳ bầu cử trước. 

Và kỳ bầu cử năm 2012  ắt cao hơn nữa vì ứng cử viên nào cũng dư chi và dư thu cao hơn. Và đặc biệt  trong kỳ bầu cử  năm nay 2012  theo phán quyết của Tối Cao Pháp Viện các Super PAC tòan quyền thu chi để ủng hộ gà nhà và đánh phá gà địch như đã thấy ở trên giữa các ứng cử viên Cộng Hòa.

Theo một sưu khảo và thăm dò, cuộc bầu cử ngày 2 tháng 11 năm 2010 chi phí các ứng cứ viên, các tổ chức chánh trị ủng hộ ứng cử viên tự nhiên trong đó có các chánh đảng dành chi cho truyền thông đã cao lâu nay  kỳ bầu 2010 tăng  đáng sợ. 

Theo tổ chức Campaign Media Analysis Group, số chi phí đó  trong cuộc bầu cử 2 tháng 11 này phải lên đến $4.2  tỷ Đô la. Tỷ lệ gia tăng rất cao. Phần lớn của số tiền kếch sù đó là dùng để trả cho  tiền quảng cáo tranh cử trên truyền thông, theo sưu khảo của  Borrell Associates. 

Theo tổ chức này chi phí dành trả cho truyền thông trong bầu cử cứ tăng theo mỗi mùa bầu cử, không liên quan đến tình hình kinh tế lên hay xuống gì cả. Càng ngày, càng gần ngày bầu cử, đề tài, đề luận, lời qua tiếng lại càng tăng, càng tốn. Cứ mỗi mùa bầu cử thì giá cả càng tăng.

Số tiền chi phí dành cho truyền hình vượt kỷ lục các năm khác còn do những ứng cử viên tái ứng cử nữa. Họ có bổi rồi nên cho rất xộp. TNS John McCain (Cộng Hoà-Ariz.) và  Kirsten Gillibrand (Dân chủ – N.Y.), và một số dân biểu, nghị sĩ lắm bạc nhiều tiền như các ứng cử viên Cộng Hoà Linda McMahon ở  Connecticut và Carly Fiorina ở California. Những ứng cử viên này đã đổ nhiều triệu Đô la cho việc quảng cáo truyền hình tranh cử, cho việc làm phim quảng cáo cũng như mướn các cố vấn có tên tuổi chánh yếu là dùng vào việc quảng cáo tranh cử trên truyển thanh, truyền hình, báo chí nhưng nhiều nhứt là truyền hình. Truyền thông là món tiền lớn nhứt cần phải chi trong chiến dịch tranh cử – là kết luận của  Evan Tracey, giám đốc của tổ chức sưu khảo Campaign Media Analysis Group.

Số tiền tranh cử chi phí cho truyền thông so với số chi phí gởi truyển đơn qua bưu điện, chi phí lương cho bộ tham mưu, và các chi phí linh tinh – tất cả đều tăng nhưng chi phí cho truyền thông cao nhứt, nhiều nhứt trong kỳ bầu cử này theo con số của so sánh của Government Accountability Office. Giá tiền quảng cáo truyền hình ở các địa phương sát nhau giữa các đài nhưng tất cả đều tăng, theo nhận định của Television Bureau of Advertising, một đại lý lấy quảng cáo cho các đài truyền hình. Theo ước đoán gần chính xác, cuộc bầu cử nào có số quỹ tranh cử từ 1 triệu trở lên, thường sử dụng từ 41 cho đến 49% cho truyền thông.

Câu hỏi sau cùng để người  Mỹ gốc Việt trong đó có truyền thông tiếng Việt ở Mỹ Việt cùng nhau suy gẩm. Truyền thông tiếng Việt phát thanh, phát hình,báo chí truyền thống có đầy đủ. Ở  cấp địa phương, cấp vùng và cấp quốc gia Mỹ đều có phủ sóng. Người Mỹ gốc Việt có gần 3 triệu người, đa số có quốc tịch Mỹ và một số không nhỏ là công dân cử tri Mỹ – cử tri mẫn cán nữa là đằng khác.Nhưng cho đến bây giờ tại sao các ứng cử viên Mỹ chưa ngó ngàng đến truyền thông tiếng Việt?./.


Ai Bảo Vệ Ngư Dân Việt

Vi Anh

 

Cũng như mọi năm, năm nay 2012, Trung Cộng đơn phương  công bố lịnh cấm  đánh cá  ở Biển Đông vào mùa trúng nhứt. Lịnh cấm suốt hai tháng rưỡi bắt đầu từ ngày 16 tháng 5 đến 1 tháng 8. Lịnh năm nay mở rộng phạm vi cấm đóan ra vùng biển Scaeborouh TC đang tranh chấp với Phi Luật Tân. Lịnh năm nay TC khuyến khích ngư dân Trung Quốc tập trung đánh cá ở vùng biển gần Trường sa là vùng TC và VNCS đang tranh chấp. Hình phạt qui định nặng hơn, vi phạm sẽ phạt tịch thu tàu, ngư cụ và hải sản, “người vi phạm” bị 2 năm tù và 8.000 Đô la tiền vạ.

Phi luật Tân phản ứng, khẳng định không công nhận lệnh này, tuyên bố TC “xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Philippines” và Manila “sẽ thực thi các đặc quyền hợp pháp theo Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS)”. Và Phi sẽ “có thể áp đặt lệnh cấm tương tự để khôi phục nguồn hải sản”.

Còn  chế độ CS Hà nội đang thống trị VN  thì cũng như mọi năm phản đối việc TC cấm đánh bắt cá ở Biển Đông bằng lời nói suông, một cách chiếu lệ, làm lấy có mà thôi. Không phải gởi công hàm hay triệu đại sứ TC đến Bộ ngọai Giao trao công hàm phản đối, mà vào ngày 15-5, trả lời câu hỏi của phóng viên Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam CS Lương Thanh Nghị không dám nói đích danh, trực tiếp đến lịnh cấm hiện tiền của TC và  lập trường cụ thể của CS Hà nội, mà chỉ nói bâng quơ, vòng vo tam quốc, như sau: “Lập trường của Việt Nam về vấn đề này đã được nêu rõ trong phát biểu của Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 20-01-2012.” 

Trong khi đó Thượng Nghị Sĩ McCain một chính khách có thế lực và từng là ứng cứ viên tổng thống của Đảng Cộng Hòa từ Mỹ cách VN và Phi nửa vòng trái đất mà còn nói thẳng thừng Mỹ không thể để Trung Quốc ‘tự tung tự tác’ ở Biển Đông. Theo TNS, Mỹ cần phải bảo đảm rằng Trung Quốc không thể “muốn làm gì thì làm”, Mỹ cần phải ủng hộ các nước đối tác trong khối ASEAN, để họ có thể hình thành một mặt trận thống nhất và thông qua đường lối đa phương, hầu có thể giải quyết vụ tranh chấp này một cách hòa bình. 

Trong những năm gần đây, nhà cầm quyền CS Hà nội xuất hàng chục tỷ Đô la mua máy bay, tàu lặn. Mới đây tuyên bố sẽ giao cho lực lượng cảnh sát biển một chiếc tàu lớn và hiện đại nhứt, với thủy thủ đòan 70 người, trọng tải 2,200 tấn, tốc độ tối đa  21 hải lý mỗi giờ, có thể hoạt động trong mọi điều kiện sóng gió với thời gian 60 ngày đêm liên tục.

Thế nhưng từ khi TC chiếm biển đảo của VN, không tàu thuyền đánh cá  nào khi bị TC tấn công, bắn giết mà thấy bóng dáng hải quân hay cảnh sát biển của CSVN. Bóng dáng còn không thấy thì làm gì có chuyện đối phó với quân Tàu hay cứu giúp ngư dân VN. Nhưng ngư dân nào được miển đóng thuế và lệ phí cho Đảng Nhà Nước CS Hà nội trung ương cũng như địa phương. 

Năm nay 2012 là năm thứ ba Trung Cộng đã ngang nhiên, ngang ngược ra lịnh cấm đánh cá ở Biển Đông coi như là ao nhà của TC. Như thông lệ nhà cầm quyền CS Hà nội cho phát ngôn viên lên tiếng phản đối, xác nhận chủ quyền VN nhưng TC không đếm xỉa gì cả. Nhưng CS Hà nội cho đảng viên cán bộ đang nắm mấy cơ quan ngoại vi của Đảng là hiệp hội ngành đánh cá tuyên bố ngư dân VN bất chấp lịnh cấm của TC, thúc đẩy, khuyến khích ngư dân tiếp tục ra khơi, bám biển nhưng Đảng Nhà Nước không thấy tung quân ra bảo vệ ngư dân. 

Vấn đề đặt ra là phải chăng lợi dụng nhu cầu thiết yếu sống  của ngư dân VN phải đi đánh cá nếu không thì chết đói cả nhà, Đảng Nhà Nước CS Hà nội sử dụng ngư dân làm quân trinh sát hay lấy ngư dân thực hiện chiến thuật biển người ngăn chận TC. 

Nhớ lại trong một phóng sự phát thanh ngày 16-5-2011, Nam Nguyên, phóng viên RFA, tường thuật. “Ngư dân Đà Nẵng phát biểu tàu Hải Quân Việt Nam thường ở gần bờ không ra xa đến những ngư trường mà ngư dân họat động…  Một ngư dân nói “Thấy tàu của Hải Quân VN đi ở 110 độ kinh đông trở vô thôi 16 độ vĩ Bắc trở xuống chứ còn lên 17 Bắc-111 đông thì không có Việt Nam mình, chỉ có tàu Trung Quốc thôi.” 

Điều đó cho thấy rõ khẩu hiệu do Đảng Nhà Nước đưa ra “Nhà Nước và Nhân Dân Cùng Làm” là tuyên truyền láo. Nhà cầm quyền chỉ có “động viên”, “đề nghị” tức bắt dân làm, mà cán bộ đảng viên thì lánh né. 

Bảo quốc an dân là việc làm  then chốt một chánh quyền đáng gọi là chánh quyền phải làm, phải có hành động kiên quyết, dứt khoác. TC đã cướp miếng cơm của người dân Việt ngay trên ngư trường mà đất nước ông bà VN  ngàn năm đã để lại cho con cháu. TC đã cướp chủ quyền quốc gia trên một phần giang sơn gấm vóc mà Tổ Tiên VN đã khai phá, phát triễn và gìn giữ bằng xương máu của quân dân Việt Nam hàng ngàn năm rồi.

TC đã nhứt quá tam, làm tội phạm quán hành, trường hợp gia trọng, VN không thể không chiến đấu tự vệ, không thể không đòi hỏi công lý được. Trước cuộc cướp biển, với bọn cướp biển lần thứ ba, thứ tư  này, nhà nước và nhân dân phải cùng chống trả. 

Không thể chờ Mỹ, chờ ASEAN, chờ thời cơ  gì được nữa. Thời gian đang có lợi cho TC mà rất bất lợi cho VN. Nhà Nước không thể để cho Trung Cộng bắt ngư dân Việt Nam, tịch thu tàu, đòi tiền phạt và chuộc nữa. Nhà Nước không thể đưa ra những lời truyên bố suông về chủ quyền trước những hành động cướp cạn có hệ thống của TC nữa. Nhà Nước không thể xúi, lùa dân ra biển, làm trinh sát cho quân đội, làm bia cho tàu tuần của TC. 

Đảng Nhà Nước không thể chỉ ở Hà nội sai phát ngôn viên bộ ngoại giao tuyên bố bằng những lời lẽ trống rổng, sáo mòn, chiếu lệ, tuyên xưng chủ quyền, lên tiếng  phản đối, lên án lịnh cấm của TQ là  «bất hợp pháp» và «vi phạm chủ quyền Việt Nam”. Ngoại giao cái gì, đối thọai làm chi với “một kẻ nói ngang ba làng nói không lại” như TC, hởi Ô. Trọng, Sang, Dũng. 

Đảng Nhà Nước không có lý do gì không để cho báo chí trong nước thông tin, nghị luận trung thực, nói lên niềm đau của đất nước VN bị quânTàu cướp, nỗi khổ của đồng bào ngư dân Việt Nam bị quân Tàu cướp nguồn sống, người dân VN  yêu nước thương dân xuống đường bày tỏ lòng yêu nước, chống quân Tàu xâm lược như Việt Khang đã đem tim óc ra viết thành dòng nhạc, lời ca đau đớn của quốc gia dân tộc VN. 

Ông Trọng người Miển Bắc, Ông Sang, Ô. Dũng người Miền Nam  cầm quyền làm gì  mà không bảo quốc an dân. Quân đội, hải, lục, không quân, cảnh sát biển, biên phòng đều có. Tàu xe, máy bay, súng nhỏ, súng lớn, bom hoả tiễn đều có. Tướng tá “quân hàm”, huy chương đỏ ngực. Một năm người dân đóng bao nhiêu thuế để trả lương và phụ cấp. Quân đội làm gì không ra biển bảo vệ ngư dân, giữ gìn bờ cõi. 

Trong thế giới sử, trong lịch sử Việt Nam, chủ quyền quốc gia, danh dự đất nước, quyền lợi nhân dân, chỉ có chánh quyền và nhân dân nước đó mới bảo vệ kiến hiệu nhứt. Không có ngoại bang nào yêu nước VN, sẵn sàng chết sống cho Tổ Quốc  VN như người Việt. Quyền lợi của quốc gia dân tộc VN, người Việt không chiến đấu bảo vệ thì ngoại quốc dại gì nhảy vô giúp đỡ. 

Ai cũng biết thời gian có lợi cho TC. Nguyên trạng cũng có lợi cho TC vì họ đã chiếm hai đảo Hoàng sa, Trường sa lập thành huyện Tam sa trực thuộc tỉnh đảo Hải Nam rồi. Căn cứ hải quân Hải Nam của TC đã phong tỏa Vịnh Bắc Việt rồi. Còn Biển Đông của VN, bản dồ hình lưỡi bò của TC  đã liếm hết  80% diện tích rồi.

Ở thế kỷ 21 này, thế giới đâu có để yên cho một nước lớn đánh ăn hiếp một nước nhỏ. Nhứt là nước lớn đó là TC có quá nhiều kẻ thù, quá nhiều kẻ ghét trên thế giới. Trong lịch sử VN, chưa bao giờ VN hiện có 3 triệu người Việt tỵ nạn CS là những nhà ngọai giao dân gian quốc tế vận hữu hiệu cho quyền lợi quốc gia dân tộc VN. Người Việt hải ngọai chống chế độ CS, chớ không chống quốc gia dân tộc VN là nước nhà, là đồng bào của người Việt hải ngọai. Cái gì chớ khi quân Tàu đánh VN, ngành ngọai giao của TC tại các đại siêu cường mà người Việt tỵ nan CS đã định cư vô quốc tịch, sẽ bị một trận sóng thần chống đối liên tục bởi người Việt hải ngọai./.


Quốc Tế Hóa Dân Oan VN

Vi Anh

 

Giới trí thức Việt Nam trong ngòai nước đang có sáng kiến và thực hiện hành động quốc tế hóa vấn đề Dân Oan Việt Nam. Như đã biết nhà cầm quyền CS Hà nội bắt đầu từ ngày 20/04/2012, đã dùng hàng ngàn bộ đội, công an, dân phòng và côn đồ đánh đập dân, nhà báo đề cưỡng chế, cưỡng chiếm đất đai, ruộng vườn, nhà cửa của hàng trăm gia đình người dân ở huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên để thực hiện dự án Ecopark. Cầm đầu, đứng  sau và cao nhứt của dự án này là con gái của Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng “chủ quản” một tập đòan kinh tế tài chánh dĩ công vi tư rất lớn. Và đối tác là hai cơ quan ngọai quốc, Viện Đại học Anh tại Việt Nam (British University Vietnam) và Tập đoàn Savills.

Ngày 4 tháng 5 năm 2012, hàng trăm quí vị giáo sư, chuyên gia, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã  chủ trương, phổ biến trên mạng kêu gọi đồng bào ký tên bản Tuyên Bố v/v Cưỡng Chế Giải Tỏa Đất Đai Văn Giang Bằng Vũ Lực. Bản tuyên bố được rất nhiều người ủng hộ và chuyển đến cho nhà cầm quyền VNCS, như một kiến nghị thông thường. Và theo thông lệ CS Hà nội coi thường không trả lời trả vốn gì cả.

Nhứt là vụ cưỡng chiếm đất của dân này liên quan đến con gái cưng của Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng, là thủ tướng nhưng mạnh nhứt nước hiện giờ ở VN. 

Nhưng quí vị trí thức cứ kiến nghị để chuẩn bị cho một thế cờ khác, mới mẻ và sâu xa hơn trong vấn đề đấu tranh của Dân Oan VN. Đó là phải khiếu kiện với nhà cầm quyền quốc nội trước để khi khiếu  kiện với ngọai quốc, ngọai quốc can thiệp dự sự, can thiệp không bị nhà cầm quyền nội địa kháng biện là xen vào nội bộ của một nước.

Hiệu quả nhãn tiền từ phía đối tác ngọai quốc trong dự án Ecopark. Sau khi nhận được bản tuyên bố của người Việt cho biết dùng quân đội, công an và du đãng đánh đập, đàn áp người dân bảo vệ tài sản của mình một cách ôn hòa ở Văn Giang là hành động phản “văn minh” không thể chấp nhận được. Hai cơ quan ngọai quốc đối tác trong dư án Ecopark là Viện Đại học Anh tại Việt Nam (British University Vietnam) và Tập đoàn Savills gởi điện thư  trả lời ngay là sẽ xem xét và có thái độ sớm.

Thấy vấn đề trở thành quốc tế, nhà cầm quyền  CS Hà nội chắc đã âm thâm chỉ đạo cấp huyện Văn Giang và tỉnh Hưng Yên tỏ ra mềm mỏng liền. Họ cử cán bộ  có thẫm quyền đến xin “cơ quan chủ quản” của hai nhà báo bị công an, bộ đội đánh. Còn trung ương thì câm như hến. Không “báo đài” nào dám nhắc đến bản tuyên bố của số trí thức. 

Thề là hành động quốc tế hóa vấn đề Dân Oan VN tiêu biểu qua vụ Dân Oan ở Văn Giang có kết quả về ngọai giao của người dân đối với giới đầu tư ngọai quốc. 

Như mọi người đều biết, đầu tư ngọai quốc là vấn đề sanh tử của kinh tế của Đảng Nhà Nước CS Hà nội. Quan trọng đến mức họ phải kềm giá lương tiền của công nhân, để lơi lỏng điều kiện lao động, điều kiện bảo vệ môi trường đề thu hút đầu tư ngọai quốc, khiến công nhân phải đình công, lãng công đòi tăng lương và cải thiện làm việc số vụ càng ngày càng tăng.

Và bây giờ những nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền kết hợp vấn đề chánh trị, xã hội của Dân Oan VN đã biến thành phong trào với lãnh vực kinh tế. Đảng Nhà Nước đã cướp đất của dân qua việc trưng dụng trả rẻ mạc nhà đất của dân để làm “mặt bằng” các dư án kinh tế. Cán bộ đảng viên CS đã lấy của dân làm của riêng bán mắc  hay hùn  với các nhà kinh doanh ngọai quốc với giá cao hơn 40 lần giá đền bù cho dân để tự tư tự lợi –  như hối mại quyền thế như nhận hối lộ vậy. 

Tội hối lộ là tội hình hầu hết các nước văn minh, luật lệ trừng trị người đưa hối lộ, lẫn người nhận hối lộ. Những nhà đầu tư quốc tịch Anh, Mỹ, Nhựt, Pháp, Úc, v.v… lo hối lộ cho đảng viên cán bộ trong nhà cầm quyền VNCS để tranh thầu hay xin làm dự án về nước nhà nếu tội bị phát giác sẽ bị tù tội. 

Điển hình như vụ Hùynh ngọc Sĩ Phó Giám Đốc Sở Giao Thông Vận Tải TPHCM ăn hối lộ của nhà thầu Nhựt. Nhà thầu Nhựt bị tù về tội đưa hối lộ khi về nước.Và chánh phủ Nhựt còn chuyển tài liệu đồng phạm, áp lực ngưng viện trợ VNCS phải trừng trị Hùynh ngọc Sĩ về tội nhận hối lộ.

Cũng như vụ tiền polymer ở Úc, chánh quyền và báo chí Úc liên tục phanh phui, đòi hỏi CS Hà nội phải có hành động pháp lý đối với người  Việt có liên quan trong vụ hối lộ ở Úc này. Vì nội vụ liên quan đến cấp quá cao Thống Đốc Ngân Hàng và một đại tá tùy viên nên CS cố che dấu, chỉ “nặc lịnh từ dịch”, không truy tố ra tòa. Nhưng công luận Úc chưa ngừng vì đối với Úc đây là vấn đề pháp luật.  

Văn minh Nhân Lọai bây giờ không chấp nhận nhà cầm quyền dùng bạo lực đối với người dân tranh đấu cho quyền lợi của mình một cách ôn hòa. Dùng quân đội, công an, cảnh sát, du đãng để trấn áp dân tranh đấu một cách ôn hòa là phi pháp, phi đạo lý, trái với văn minh. Ở một qui mô và cường độ nào đó có thể trở thành tội ác diệt chủng, tội ác chống nhân lọai.

Trong dự án Ecopark của Tập Đòan do con gái Thủ Tướng Dũng “chủ đạo”, đã dùng hàng ngàn bộ đội, công an, dân phòng, du đãng đánh đập dân để cưỡng chiếm đất đai của dân làm “mặt bằng” xây dựng Ecopark đó có hai đối tác là người Anh. Đó là Viện Đại học Anh ở Việt Nam (British University Vietnam ) và Tập đoàn Savills.

Nên ngày 8-5- 2012, nhóm chủ trương Tuyên Bố Văn Giang gởi cho hai tổ chức này của nước Anh  một bức thư  Tin Đài RFI ngày 11- 5,  cho biết “ bức thư nhắc lại là ngày hôm đó, hàng ngàn cảnh sát chống bạo động đã xung đột với dân làng Văn Giang chống việc cưỡng chế thu hồi đất xây dự án Ecopark. Công an đã đánh đập tàn nhẫn những người phản đối và bắt giữ hàng chục người. Bức thư có kèm theo những link dẫn đến những thông tin và hình ảnh về vụ đàn áp nói trên, được phổ biến rộng rãi trên mạng từ nhiều ngày qua.

“Đối với các tác giả bức thư, cách đối xử vô nhân đạo với dân làng Văn Giang là «không thể chấp nhận được đối với mọi dân tộc văn minh». Họ nhắc lại là vụ Văn Giang đã gây phẫn nộ dư luận ở Việt Nam và nước ngoài. Hàng ngàn người đã ký tên vào bản tuyên bố phản đối vụ cưỡng chế ở Văn Giang. Các tác giả bức thư cho rằng, trong đầu của mọi người Việt Nam được thông tin đầy đủ, Ecopark nay trở thành «biểu tượng của đàn áp».

“Bức thư kêu gọi các trường đại học Anh quốc nên tỏ thái độ về vụ cưỡng chế ở Văn Giang và gây áp lực lên Công ty Đầu tư và Phát triển Đô thị Việt Hưng VIHAJICO, tức là công ty thực hiện dự án Ecopark, để buộc họ xin lỗi và đền bù thỏa đáng cho những người dân bị cưỡng chế. Nếu VIHAJICO không thực hiện những điều đó, bức thư yêu cầu các trường đại học Anh quốc chấm dứt mọi quan hệ với đối tác Việt Nam và rút khỏi dự án Ecopark.

Và hai đối tác Anh đã phản hồi nhanh và hứa sẽ xem xét, và hành động như đã nói trên.

Đây là một tiền lệ rất tốt để người dân Việt và các tổ chức đấu tranh cho Dân Oan VN quốc tế hóa vấn đề Dân Oan VN. Bằng  khiếu kiện trực tiếp với chánh quyền và các tổ chức kinh doanh ngọai quốc vào làm ăn ở VN. Kết quả nhanh và hiệu quả hơn ở VN, nhà cầm quyền coi thường dân chúng, lúc nào cũng đùa đẩy, tránh né, không giải quyết mà còn đánh đập, trấn áp, đổ tội cho dân nữa./.


CÂU CHUYỆN THỜI SỰ 16/5/2012 — ĐẢNG CHỈ LÀM HẠI DÂN MÀ THÔI

VŨ QUANG NINH

Theo tin từ đài RFI Bí thư đảng bộ tỉnh Quảng Đông là ông Uông Dương đã đưa ra một nhận xét vào thứ tư ngày 9/05/2012 vừa qua, nguyên văn như sau chúng ta phải vứt bỏ đi ý tưởng sai lầm cho rằng “hạnh phúc của nhân dân là do Đảng và chính phủ mang lại”.

Đây là một tuyên bố có tính cách lịch sử. Từ xưa đến nay tại Trung Cộng, toàn dân được nhồi sọ, được học tập ngày đêm, một tín điều mà người dân nào cũng thuộc lòng. Đó là “nhờ ơn Đảng và Nhà Nước mà Trung Hoa được độc lập, hạnh phúc và ổn định. Mao chủ tịch được tôn vinh như Ngọc Hoàng giáng thế, chăm lo đời sống của nhân dân từ lúc lọt lòng đến khi qua đời”. Lời tuyên bố của ông Uông Dương đã đập vỡ huyền thoại truyền thống của Đảng Cộng sản Trung Hoa. Họ tống nhét vào tâm tư người dân từ lúc ở tiểu học cho đến khi tắt thở. Điểm đặc biệt là ông Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông đã đưa ra nhận xét trái ngược với tín điều của Đảng và Nhà Nước trong khi ông còn đang tại chức và trong khi đang có cuộc chuyển đổi quyền lực trong nội bộ Trung Cộng.

Tại Việt Nam thì chỉ khi nào đã về hưu, đã không còn giữ chức vụ lãnh đạo trong Nhà Nước thì các quan lớn mới dám nói những điều trái với Đảng và Nhà Nước, thí dụ như Võ Văn Kiệt, Nguyễn Phú An…

Tổng Thống Nga, ông Putin và Thủ tướng Nga ông Mevedev đều tố cáo tội ác dã man của chế độ Liên Xô. Như vậy tại những cái nôi và thiên đường của chế độ Cộng sản, quan thày của các cán bộ cao cấp Cộng sản Việt Nam đều đã lên án chủ nghĩa và chế độ Cộng sản. Ngừơi ta không thể hiểu tại sao cộng sản Việt Nam còn cố bám bíu lấy hệ thống Mác Lênin hủ lậu và tàn bạo.

Họ còn đang hướng về Bắc Kinh để quan sát những biến chuyển chính trị và từ đó họ có thể lại theo mẫu mực của Trung Cộng.

Hà nội đang sa lầy trầm trọng trong vũng bùn tham nhũng, thối nát của cán bộ các cấp, nhất là lúng túng không giải quyết được những khiếu nại chính đáng của nông dân bị mất ruộng vườn nhà cửa. Chính Thủ tướng Cộng sản Nguyễn Tấn Dũng ngày 2 tháng 5 mới đây đã phải mở một hội nghị xác nhận việc cưỡng chế đất đai tạo ra những điểm nóng dẫn đến những bất ổn chính trị. Ngày 7/5 đến lượt Nguyễn Phú Trọng mở hội nghị Trung Ương Đảng lần thứ 5 để yêu cầu Đảng viên cao cấp bàn về vấn đề đất đai “phải theo hướng giữ vững ổn định chính trị”. Tại Hội nghị có tên là “Hội nghị toàn quốc về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo”, hội nghị đã báo cáo về hồ sơ khiếu kiện như sau: Khiếu nại từ năm 2008 đến 2011

  • Tiếp 1,571,500 lượt người khiếu nại.

  • Tiếp nhận, xử lý 672,990 đơn thư

  • Số vụ việc tăng 26,4%

  • Đoàn đông người tăng 64,5%

  • Số vụ khiếu nại đúng chiếm 19,8%

  • Số vụ khiếu nại có đúng, có sai chiếm 28%

Vừa rồi chỉ là con số do Nhà Nước đưa ra. Thực tế có thể phải gấp đôi và còn hàng ngàn đơn khiếu nại bị các cán bộ phường, thôn, xã xé tan khi dân đưa đến và còn dùng bạo lực đuổi nông dân về. Hơn nữa, dân oan kéo tới từ các làng quê khắp các tỉnh suốt cả thập niên mà không hề được giải quyết. Cho nên uất ức quá mới bột phát vụ Tiên Lãng, vụ Văn Giang, vụ Vụ Bản và còn biết bao vụ khác bị chặn đứng, bị bưng bít. Không thể có biện pháp công minh thanh thỏa vấn đề khi Đảng và Nhà Nước vẫn chối bỏ quyền tư hữu tài sản của nông dân và của mọi công dân. Tài sản quốc gia thuộc về Đảng và Nhà Nước vì Đảng đã vô sản hóa toàn dân để tư hữu hóa toàn Đảng. Đảng đã bần cùng hóa toàn dân để tư bản hóa toàn đảng thì làm sao có thể ổn định chính trị và xã hôi được.

Như quý vị, quý bạn đều rõ hệ thống tư tưởng Mác Lê đã bị đào thải đã chết trên thế giới. Tuy nhiên đảng Cộng sản Việt Nam đã lấy bóng ma Hồ Chí Minh bao trùm trên 2 xác Mác Lê và bắt dân ta tôn thờ cũng như vẫn áp dụng đè nặng trên đất nước và dân tộc những lý thuyết huyền hoặc để lừa bịp và bóc lột nhân dân. Trước sau gì ánh sáng chân lý sẽ chiếu tỏa và làm tan đi bóng đêm Cộng sản. Đó là nguyện ước nóng bỏng trong lòng mọi con dân Việt Nam.

 

 

Tây Tạng: Hy Sinh Là Vũ Khí

Vi Anh

Vì tự do, vì phục quốc, vì bảo tồn bảo tồn văn hóa, ngôn ngữ,vì quyền tự do hành đạo, hơn ba mươi tăng ni Phật Tử đã tự thiêu. Kẻ thù xâm lược, thực dân TC gọi những người hy sinh mạng sống mình cho đạo pháp và dân tộc Tây Tạng là «quân khủng bố» tuyệt vọng. Nhưng người dân Tây Tạng, quốc gia dân tộc Tây Tạng trên nóc nhà của Trái Đất, diện tích bằng ba lần nước Pháp, coi Phật Giáo là quốc giáo, tôn vinh tăng ni, Phật tử chọn hy sinh làm vũ khí đấu tranh giải trừ quốc nạn và pháp nạn do CS Trung Quốc đang thống trị quốc gia dân tộc mình – là những anh hùng dân tộc, tử vì đạo, chết vì Tổ Quốc. 

Ba mươi ba tăng ni, Phật tử đã tự thiêu. Ba mươi ba trường hợp hy sinh vì quốc gia dân tộc và Phật giáo hầu như giống nhau. Người tự thiêu thường ngồi kiết già, có người trong hòan cảnh ngọn lửa thiêng đang cháy biến tấm thân ngũ uẩn của cõi ta bà này thành ngọn đuốc người, cánh tay còn cố giơ cao lên, miệng còn kêu lên lời chót, yêu cầu để Đức Đạt Lai Lạt Ma về với quốc gia dân tộc và Phật Giáo Tây Tạng. 

Và sau đó tăng ni, Phật tử, thường là hàng trăm, hàng ngàn người, tập trung lại dưới sự điều khiển của vị sư già làm lễ hộ niệm, làm lễ tang theo nghi thức cỗ truyền, hết sức trang nghiêm và thành khẩn.

Nhiều khi công an, cảnh sát, và du đãng do công an tổ chức ùa tới, giành xác chết của người tự thiêu, đem đi giấu, không cho tăng ni, Phật tử làm lễ, tránh gây náo động, tập trung đông người. Nhưng vô ích công an càng trấn áp, giành giựt, tăng ni, Phật tử càng quyết tâm chống lại. Công an không đủ sức và đủ người giải tán vì tăng ni, Phật tử đông hơn, kiên quyết hơn. Như vụ tự thiêu của một Phật tử Sonam Dargye ở Rebkong ngày 14 tháng Ba, tăng ni, Phật tử đến để hộ niệm và làm đám tang có tới 8000 trong một thành phố chỉ có 80,000 cư dân.  

Công an CS vô tình tạo điều kiện cho qui luật sau thành hiện thực: sức ép càng nhiều, sức bật càng cao và bạo lực kêu gọi bạo lực. Nhứt là trong thời đại tin học, với tiến bộ khoa học kỹ thuật tin học, các vụ tự thiêu ở Tây Tạng được phổ biến tổng quát, CS không đủ sức ngăn chận, bưng bít. 

Sự hy sinh cao cả và quí báu đó trên phương diện đối nội phát huy lòng yêu nước, trọng đạo của tòan dân Tây Tạng ở trong nước và ở hải ngọai, từ già đến trẻ. Trên phương diện đối ngọai lương tâm Nhân Lọai bị đánh động, vấn đề TC cưỡng chế, cưỡng chiếm quốc gia dân tộc  Tây Tạng, vấn đề TC quốc đàn áp, bách hại tôn giáo, cào bằng văn hóa Tây Tạng, cưỡng bức, bức bách Hán hóa Tây Tạng — trở thành vấn đề lương tâm của nhiều nhân dân và chánh quyền trên thế giới.

Trung Cộng càng ngăn cấm, càng bưng bít càng bị phanh phui. TC lập vòng vây cấm không cho báo chí ngọai quốc, người ngọai quốc đến những vùng đất của người Tây Tạng bị TC sáp nhập là tỉnh của TC như Tứ Xuyên trên không gian thực. Nhưng TC không thể làm việc ấy trên không gian ão nhưng rất thực qua truyền thông kỹ thuật số với Internet chuyển đi hình ảnh, thông tin, nghị luận bằng nhiều cách. Chỉ cấn một cái bấm trên điện thọai cầm tay tân thời có thể sữ dụng như máy chụp hình, máy computer chuyển thông tin, nghị luận bằng một cái bấm, tốc độ tranh với ánh sáng. 

Trừ TC cáo gian quí vị tự thiêu là khủng bố, là thất vọng, là bắt chước, hầu hết lòai người chánh trực nhìn quí vị này là những vị tử vì đạo. Quí vị này tự thiêu không phải vì thất vọng, vì uất hận, vì bắt chước. Quí vị này tự nguyện một cách đầy ý thức hy sinh thân xác mình cho quốc gia dân tộc Tây Tạng và Phật Giáo Tây Tạng. Sư hy sinh, hành động cảm tử này là vũ khí đấu tranh, là sự tự giác để giác tha, đánh động lương tâm đồng bào Tây Tạng, đồng dạo Phật Giáo Tây Tạng, đồng lọai Con Người, về quốc nạn và pháp nạn mà quốc gia dân tộc Tây Tạng, thành tố của cộng dồng thế giới, Lòai Người đang phải chịu dưới ách thực dân kiểu mới của TC ỷ mạnh hiếp yếu, ỷ lớn hiếp nhỏ.  

Hy sinh, vũ khí thiêng liêng này làm cho TC bị động, mất sáng kiến, mất khôn ngoan, buộc tội và rêu rao những vụ tự thiêu này là hành động khủng bố. Một lọai tuyên truyền khiến người nghe cảm thấy bị khinh thường. Tăng ni, Phật tử Tây Tạng tự thiêu có làm hại mạng sống người nào đâu. 

Trái lại ai cũng thấy người gieo tiếng ác cho quí vị tu hành  hy sinh vì quốc gia dân tộc và Phật Giáo này, là cán bộ, đảng viên, công an CS và bọn du đảng do CS tổ chức trấn áp tăng ni, Phật tử và người Tây Tạng mới chính là quân khủng bố – một lọai khủng bố của nhà nước chống lại người dân, chống lại sắc tộc thiểu số gọi là state terrorists theo danh tứ chánh trị bây giờ.

Rõ rệt mười vụ như một, chính công an cảnh sát và du đảng của  CS đi cướp xác người chết tự thiêu đem đi giấu và bắt bớ, đàn áp, đánh đập người thân, người dân, người đồng đạo đến hộ niệm đưa hương linh ngưới quá cố lên niết bàn. 

Chính TC tạo cái vòng lẩn quẩn oan nghiệt càng ngày càng bung ra vô phương gỡ rối, cho thấy tương lai của phong trào tự thiêu của Tây Tạng sẽ đau thương, phát triễn hơn. 

Chính CS Bắc Kinh là nhà nước khủng bố. Phương pháp khủng bố của  nhà nước TC không thành công mà thúc đẩy phong trào tự thiêu phát triển thêm. TC bưng bít tin tức, TC trấn áp thẳng tay, TC thiết quân luật, phong tỏa những vùng có đông người Tây Tạng ở. Càng làm thế những tỉnh của TQ có cộng đồng Tây Tạng ở như Tứ Xuyên, Thanh Hải càng trở thành như ốc đảo trong nội địa TQ. 

Việc làm đó của TC làm cho người Tây Tạng nhận thức rõ tự do có cái giá của nó, phải tranh đấu, phải chiến đấu mới có, mới được. Không thể chờ,không thể xin mà có. 

Liên Hiệp Quốc hứa can thiệp khi số tự thiêu lên 15 nguời, rồi hứa khi lên 30 người tự thiêu, và bây giờ hơn 30 người, đã 33 người  tự thiêu mà LHQ cũng không thấy động tịnh gì. 

Người Tây Tạng nghĩ nếu cần tăng ni Phật tử sẽ hy sinh một hai ngàn người đề giải trừ quốc nạn và pháp nạn. Đó là chuyện của người Tây Tạng, người Tây Tạng không làm thì ai làm cho người Tây Tạng. 

Tự thiêu trở thành vũ khí đấu tranh của người Tây Tạng. Nhứt là đối với người tử vì đạo pháp và dân tộc tin ở luật luân hồi, làm việc tốt sẽ được thăng hoa ở kiếp sau.

Người Tây Tang ở trong nước cũng như ở hải ngọai tin rằng sức mạnh tinh thần luôn luôn thắng sức mạnh vật chất. Và người Tây Tạng vẫn lạc quan với niềm tin ấy, với lý tưởng hy sinh thân xác đề giải trừ pháp nạn và quốc nạn. 33 tăng ni Phật tử đã tự thiêu, từ đầu năm 2012 đến giờ, mà đã có 12 vị tự thiêu; đa số là những người trẻ, học đạo và kiến thức cao. 

Về vật chất so với Tây Tạng,TC lớn mạnh lắm. Nhưng trong đấu tranh hay chiến tranh vì chánh nghĩa, vì đức tin lòng hy sinh, giá trị tinh thần còn mạnh hơn vũ khí vật chất nữa. Khi thành phần ưu tú như quí vị lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng quyết hy sinh cho Tổ Quốc và tôn giáo sống còn, thì sức mạnh của dân chúng sẽ phát huy thành nội lực dân tộc, tinh thần quốc gia, niềm tinh siêu hình. Lúc đó không có sức mạnh vật chất ngọai lai nào khống chế nổi. Ky tô giáo trưởng thành và phát triễn trên tro tàn của  Đế quốc La Mã  là một bằng cớ./.


Cộng Sản Hà Nội sửa đổi hiến pháp


 Võ Long Triều

 

Cộng sản Hà Nội chủ trương sửa đổi hiến pháp, do đó ngày 6 tháng 8 năm 2011, quốc hội thành lập một ủy ban dự thảo sửa đổi hiến pháp gồm 30 thành viên, trong đó có 8 thành viên thuộc Bộ Chính Trị. Đó là: Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng, Thường Trực Ban Bí Thư Lê Hồng Anh, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng Công An Trần Đại Quang, Phó Chủ Tịch Quốc Hội Tồng Thị Phóng, Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng Ban Tổ Chức Tô Huy Rứa, Trưởng Ban Tuyên Giáo Đinh Thế Huynh.

Tiếp theo, ngày 5 tháng 9 năm 2011, Viện Nghiên Cứu Lập Pháp của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội tổ chức một cuộc hội thảo tại Hà Nội để các học giả pháp lý của chế độ họp bàn việc lập hiến.

Tại sao Hà Nội cần phải sửa đổi hiến pháp trong thời điểm và giai đoạn nầy? Giữa lúc nông dân phẫn uất vì bị cướp đất, công nhân đình công vì lương không đủ sống, tôn giáo bị ngăn cấm, giới hạn, đàn áp, lòng dân bất mãn tột cùng. Trong khi các đảng viên tiếp tục làm giàu bất chính, tham nhũng trở thành quốc nạn, công an lộng hành đánh chết người một cách vô tội vạ!

Vì tình thế có nguy cơ trở thành bất lợi cho chế độ, nên trong kỳ hội nghị Trung Ương Đảng lần thứ 4 khóa 11, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khuyến cáo: “Chỉnh đốn đảng là việc mang tính sống còn đối với đảng và chế độ”. Nhưng trên thực tế cho đến ngày nay sự chỉnh đốn đó chỉ dựa vào “Phê và tự phê”, một bản hát nhàm chán, thuộc lòng, không có giá trị gì đối với các quan tham đảng viên và các tổ chức phe nhóm ăn chia có hệ thống đã hình thành từ lâu trong nội bộ đảng. Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từng tuyên bố không bài trừ được tham nhũng ông sẽ từ chức. Kết quả tham nhũng trở thành “một bầy sâu trong đảng”, dư luận trong nước còn cho rằng chính Nguyễn Tấn Dũng là con sâu đầu đàn nên mới được tiếp tục nhận thêm một nhiệm kỳ và đưa ba đứa con của ông vào guồng máy cai trị để tiếp tục vơ vét. 

Bây giờ Hà Nội bầy thêm việc sửa đổi hiến pháp chỉ là một chiêu bài nhằm xoa dịu dư luận quần chúng, một xảo thuật tuyên truyền, một cách phô trương rầm rộ để cho mọi người nuôi chút hy vọng là chế độ độc tài đảng trị sẽ thay đổi cho hợp tình, hợp lý, hợp lòng dân.

Sự thật người ta thấy gì? Hiến pháp 1946 đã sửa đổi và tu chính năm 1992 nhưng có khi nào được áp dụng đâu? Bằng cớ các học giả Việt Nam cho là bản hiến pháp đầu tiên năm 1946 đã trải qua “tám lần ban hành hoặc sửa đổi, nhưng cũng không bao giờ được thực thi. Hãy nhìn lại các quyền tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền được lập hội, quyền biểu tình, bãi công, tự do tín ngưỡng, thì đủ biết hiến pháp của cộng sản Hà Nội chỉ là tài liệu tham khảo của một quốc gia trong đó mọi thứ quyền hành đều do Bộ Chính Trị quyết đoán và định đoạt buộc phải thi hành, bất kể hiến pháp hay luật lệ có quy định như thế nào!

Trong bài diễn văn khai mạc hội nghị Trung Ương Đảng Cộng Sản lần thứ 5 ngày 07-5-2012, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng chỉ thị các ủy viên Trung Ương khi bàn việc sửa đổi hiến pháp phải theo một số nguyên tắc như sau:

- “Phải bám sát việc tiếp tục khẳng định bản chất của thể chế chính trị”.

- “Nhà nuớc pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”.

- “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước dưới sự lãnh đạo của đảng”.

- “Quyền lực nhà nước là thống nhất sẽ không có chuyện tam quyền phân lập”.

- “Vấn đề đất đai bàn theo hướng đảm bảo hài hòa các lợi ích của nhà nước, người dân, nhà đầu tư và giữ vững ổn định chính trị”.

Với năm điều yêu cầu của Nguyễn Phú Trọng, chúng ta có thể suy diễn một cách rõ ràng hơn: Thể chế chính trị của nhà nước là cộng sản chủ nghĩa, đảng mượn danh nhân dân cai trị một cách độc tài. Vấn đề đất đai phải bảo đảm lợi ích của nhà nước và giữ vững ổn định chính trị, vậy thì lợi ích của nhân dân đương nhiên trở thành hàng thứ yếu.

Làm sao có thể hài hòa được ba thứ lợi ích tương phản nhau: Lợi ích nhà nước có ẩn chứa tham nhũng lộng quyền, lợi ích nhà đầu tư là giành phần lợi tối đa về mình với khả năng đút lót, mua chuộc người cầm quyền, vậy thì lợi ích của người dân nghèo nàn cô thế, chỉ còn phương cách duy nhứt là chống đối đòi quyền sinh sống cho cá nhân và gia đình. Nguyễn Phú Trọng và Đảng Cộng Sản của ông không thể giữ vững ổn định chính trị cho tới khi nào đảng công nhận quyền tư hữu đất đai, khi nào đảng viên không còn lạm quyền để cưỡng chế đất của dân mà không bồi thường xứng đáng theo luật tự nhiên, thuận mua vừa bán. Chừng đó mới có hy vọng ổn định xã hội. 

Ngoài ra ông Trọng còn chỉ thị phải soạn thảo một hiến pháp không có tam quyền phân lập, nghĩa là chỉ có độc quyền cai trị duy nhứt của đảng. Luật Sư Trần Đình Triển nhận xét quyền hành quá lớn như vậy sẽ dẫn đến tệ nạn quan liêu, tham nhũng, hách dịch, xa rời quần chúng. Theo ông hiến pháp phải quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước đối với nhân dân bởi vì quyền lực là của nhân dân.

Quyền lực của nhân nhân là một thứ xảo ngữ, bởi vì nếu thật sự nhân dân có quyền thì nhà nước phải cho họ có quyền tự do sử dụng lá phiếu của họ, biểu hiện quyền lực của người dân. Cái xảo thuật dối trá của cộng sản là giao hết mọi quyền lực, mọi sở hữu cho nhân dân trong khi đảng chỉ giành độc quyền quản lý thôi. Cũng như đất đai, rừng núi, sông ngòi là của nhân dân nhưng do nhà nước quản lý. Nhà nước muốn cho phép dân sử dụng bao nhiêu và bao lâu tùy quyết định của nhà nước. Không khác nào nhà của anh đang ở chính anh là sở hữu chủ, nhưng do tôi quản lý, tôi muốn đuổi anh ra khỏi nhà bất cứ lúc nào với chức năng quản lý của tôi. Tiền của anh nhưng quyền tiêu xài là của tôi. Tôi cho anh hưởng được bao nhiêu tùy quyền định đoạt của tôi. Thật là phi lý, phi nhân, phi chính trị, một sự quỷ quyệt trắng trợn chỉ cộng sản mới sáng chế ra được điều đó.

Tiến Sĩ Dương Thị Thanh Mai, viện trưởng Viện Khoa Học Pháp Lý cho biết các đại biểu tham dự hội thảo đã đặt vấn đề “phải có sự kiểm soát” các cơ quan quyền lực của nhà nước. Hiến pháp hiện hành chỉ quy định việc tổ chức hoạt động, phân công, phối hợp mà thôi, rõ ràng là chưa đủ. Bà Mai khẳng định: “Việc kiểm soát phải được hiến định như một nguyên tắc”.

LS. Trần Đình Triển phát biểu rằng: “Không thể để xẩy ra tình trạng một nhóm người lợi dụng độc quyền thao túng mọi thứ”.

Nhưng thử hỏi cơ quan nào có quyền kiểm soát nhà nước? Nếu không phải là tư pháp và lập pháp phân lập? Trong khi Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ thị không thể có tam quyền phân lập!

Dư luận trong nước thắc mắc từ lâu về điều 4 hiến pháp viết rằng: Đảng Cộng Sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội… nghĩa là độc đảng, độc quyền. Điều mà ông Nguyễn Minh Triết, cựu Chủ Tịch nước công khai tuyên bố: “Bỏ điều 4 hiến pháp là tự sát”. Tuy nhiên ý kiến của ông Nguyễn Văn An, nguyên Chủ Tịch Quốc Hội là “chúng ta cần hiểu bản chất của thể chế dân chủ cộng hòa là quyền lập pháp thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước”. Ông An cũng đã từng nói 14 đảng viên trong bộ chính trị là 14 ông vua tập thể của thời phong kiến.

Về phần GS. Nguyễn Minh Thuyết, cựu Đại Biểu Quốc Hội trả lời phỏng vấn đài BBC khi hỏi ông điều 4 phải được sửa chi tiết ra sao?

Ông trả lời: “Có thể xem Trung Ương đảng là thượng nghị viện, còn quốc hội do dân bầu ra là hạ nghị viện. Rồi qui định những việc gì chỉ cần thượng viện quyết, những việc gì chỉ cần hạ viện quyết là được”.

Riêng Bộ Trưởng Tư Pháp, ông Hà Hùng Cường khẳng định: “Đã đến lúc thời điểm chín mùi phải sửa đổi hiến pháp và tư tưởng pháp quyền theo đúng nghĩa một nhà nước pháp quyền”.

Thực tế cho thấy hiện tại có rất ít đảng viên cao cấp dám nhận thức một cách khách quan là phải từ bỏ điều 4 hoặc giảm thiểu độc quyền cai trị thì đất nước mới có sự hài hòa và ổn định mong muốn. Tuy nhiên đa số đảng viên cầm đầu còn bám víu quyền lợi riêng tư, bất chấp lợi ích của nhân dân và sự phát triển đất nước. Phải chờ đến khi nào xuất hiện một công dân, một đảng viên nào sáng suốt, can đảm, đứng ra lãnh đạo nhân dân vất bỏ điều 4, thay đổi chế độ, viết lại hiến pháp thuận với lòng dân, thì mới hy vọng bảo tồn độc lập quốc gia, đem lại tự do dân chủ cho toàn dân.

Trong khi chờ đợi dân chúng cũng như Luật Sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ Nhiệm Thường Trực Văn Phòng Quốc Hội dự đoán về hiệu quả của lần tu chính hiến pháp nầy “sẽ còn nhiều hạn chế và không đáp ứng được nhu cầu cải tổ và đổi mới theo kỳ vọng của nhân dân và nhiều tầng lớp trong xã hội”.

Sự rầm rộ cổ võ việc sửa đổi hiến pháp, việc tham khảo ý kiến nhân dân chỉ là một cách thay bình mới đựng rượu cũ, rồi hô hào, dối gạt dư luận rằng Đảng Cộng Sản khoản đãi nhân dân loại rượu tối ưu, nhưng nó vẫn đắng, vẫn cay, vẫn độc hại không kém rượu ngâm trong bình từ năm 1946 và hâm lại năm 1992. – (VLT)

 

Vũ Khí Của Dân: Truyền Thông Điện Tử

Vi Anh

 

Qua các cuộc tranh đấu của người dân chống độc tài từ Bắc Phi, Trung Đông đến Trung Quốc và Việt Nam Cộng sản, người ta thấy vũ khí của người dân chống độc tài hiện thời là truyền thông điện tử. Độc tài chết mệt vì Internet do nhiều phát minh, nhiều phương tiện khoa học kỹ thuật số tân kỳ chuyển tải, tạo thành truyền thông điện tử, ngòai luồng của truyền thông chính thống của nhà cầm quyền thống trị nhân dân. Nhờ truyền thông điện tử người dân có thể phát động, huy đông quần chúng và hình thành một lực lượng đối lập, đối kháng, tranh đấu và chiến đấu chống độc tài dưới mọi hình thức. 

Một, ở Trung Hoa, Trung Cộng chết mệt với phong trào người dân chống Cộng bằng truyền thông kỹ thuật số hay truyền thông điện tử. Đảng Nhà nước TC nếu xem quyền lực năm ở  mũi súng như Mao Trạch Đông chủ trương, thì Đảng Nhà Nước TC mạnh hơn mãnh hổ. Nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ. Nếu tính sức mạnh của truyền thông điện tử của người dân dùng các phát minh, phương tiện kỹ thuật số để chống độc tài, thì Đảng Nhà Nước TC thua xa cộng đồng công dân mạng có một sức mạnh làm lũng đọan, rối trí, và bất trị đối với Đảng Nhà Nước CS độc tài đảng trị tòan diện. Qua hành động tranh đấu, chiến đấu chống nhà cầm quyền độc tài, cộng dồng dân mạng đang liên kết và hình thành một đảng dân chủ, tự do, nhân quyền chín chống chín với CS. 

Cộng đồng dân mạng ở TC bây giờ chống độc tài CS không cần dùng bích báo, truyền đơn bươm bướm hay loa tay phóng thanh để phát động, huy động người yêu nước biểu tình như thời Thiên An Môn nữa.

Phát minh của khoa học kỹ thuật tin học đã giúp cho người dân bấm một hai cái là có thể truyền đạt thông tin, nghị luận, hình ảnh cho đồng bào mình khắp nước và cho nhân dân và chánh quyền khắp thế giới biết.

Nào blog, paltalk, web, youtube, điện thọai di động, computers cung ứng nhiều phương tiện nhanh, gọn, rẻ tiền cho người dân bị trị phát huy chánh nghĩa, vận dộng tập họp, kết hợp huy động biểu tình khi cần.

Những phương tiện  trên cũng gíup phá vòng kiềm tỏa bưng bít tin tức sự thật và vạch trần tuyên truyền dối gạt của độc tài. Bản chất của độc tài là sống nhờ bưng bít sự thật, tuyên truyền dối gạt và khủng bố để củng cố tuyên truyền dối gạt. 

Những phát minh của khoa học kỹ thuật cao này cũng giúp cho người dân làm cuộc quốc tế vận để nhân dân và chánh quyền tự do, dân chủ giúp cho người dân bị độc tài dưới mọi hình thức áp bức bóc lột. 

Một vài minh họa về vũ khí truyền thông diện tử gíup cho người dân Trung Hoa chống độc tài CS, làm độc tài lũng dọan tinh thân, mất uy tín với thế giới và giúp cho người dân bị trị đòan kết lại.

Người luật sư chân đất, mù lòa vượt thóat khỏi nơi quản thúc, trong khi nguyên bộ máy công an, mật vụ điên đầu chưa biết luật sư ở đâu, thì tử nơi  trú ẩn, Ông gởi một video clip 15 phút, gởi cho Thủ Tướng Ôn gia Bảo, trên  trang web Boxun và YouTube chuyển tải, phổ biến tổng quát khắp địa cầu. Khắp nước Trung Hoa và thế giới biết những  tàn ác của công an, nhà cầm quyền CS địa phương áp bức, hành hạ và đánh đập Ông và vợ con Ông ra sao.  

Trong khi Tòa Đại sứ Mỹ đưa ông vào nhà thương lầu 9, công an bao vây, canh gác đông nghẹt, từ giường bịnh Ông Trần Quang Thành nhờ truyền thông điện tử đã báo động trực tiếp với các dân biểu Quốc hội Mỹ ngay trong buổi điều trần về nhân quyền Trung Quốc, cách Ông nửa vòng Trái Đất.

Trường hợp Ô. Ngải Vị Vị bị TC bức bách về thuế má như Điếu Cày ở VN để bắt bớ giam cầm một cách khiên cưỡng. Cả binh đoàn cư dân mạng đông chưa từng có chống lại nhà cầm quyền CS âm mưu triệt hạ Ô. Ngải Vị Vị. Trong bốn ngày thôi, hơn 20.000 ủng hộ đã tặng 6 triệu nhân dân tệ hơn (650.000 euros). Ngải Vị Vị  thuật cho nhà báo Le Monde, “Mọi buổi sáng ra, chúng tôi gom tiền quăng vào sân. Có khi tiền giấy xếp thành hình máy bay hay tàu thủy, hay cuốn xung quanh một trái cây.”

Nhờ Internet cộng đồng dân mạng ở TC, cũng đã cứu được  cô Đặng Ngọc Kiều, 21 tuổi, được tha bổng trong vụ án  Cô đã đâm chết một đảng viên CS có chức, có quyền về an ninh. Nếu không có giới bloggers đã vận động, huy động được hàng triệu người có Internet ở TC, viết hàng mấy triệu bình luận, đưa bằng cớ ngược lại những điều nhà cầm quyền cáo buộc để bắt giam Cô, thì kể như Cô không bị tử hình thì cũng tù mọt gông. Thắng lợi trong vụ Đặng Ngọc Kiều, xuất phát từ trang blog tiên khởi biệt danh “Đao Phủ”.

Dân Internet ở Trung Quốc còn có nhiều sáng kiến trừ  gian, diệt bạo CS nữa. Như  vận động phong trào Những Bà Mẹ Thiên an Môn, mở tượng đài trên Internet ghi danh và tưởng niệm nạn nhân Thiên An môn. Mới đây nhứt đưa lên Internet hình ảnh một cán bộ đảng viên CS đeo một cái đồng hồ Vacheron Constantin trị giá 14,000 đôla. Không bao lâu sau, người cán bộ này bị nặc lịnh từ dịch.

Hai, tại VN dưới chế độ CS. CS Hà nội có 700 tờ báo, hàng trăm đài phát thanh, phát hình, nhưng người dân không có một báo, đài nào cả. Nhưng hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân. Trời cao còn thương dân Việt. Khoa học kỹ thuật đã giúp cho lớp trẻ VN một phương tiện. Như một người trẻ ở VN nói một câu rất thành tâm thiện chí tận đáy tim gan của người Việt. Anh ấy nói, anh  không có gì hết, chỉ có bàn phiếm computers, anh dùng nó để chống quân Tàu xâm lăng bờ cõi, bảo vệ đồng bào bị quân Tàu hà hiếp. 

Thế là lớp trẻ VN uốn mình qua ngõ hẹp kiểm soát Internet của Đảng Nhà Nước, tương kế tựu kế phát động cuộc chiến tranh chống TC trên không gian tin học. Ngoại kích, đột kích vào các trang mạng của TC, đưa chứng lý khẳng định chủ quyền Hoàng sa và Trường sa là của VN. Nội công, dùng các trang mạng xã hội trên Internet huy động nội lực dân tộc, biểu tình trước hai cơ sở ngoại giao thường trú của TC ỏ hai thủ đô chánh trị Hà nội và kinh tế Saigon cũ. 

Theo nhận xét báo chí độc lập của Tây Âu, Bắc Mỹ và Úc châu, lớp trẻ VN đã đạt một kỳ tích trong chiến tranh tin học đối với TC. Người dân VN, thành phần trẻ hiện hơn phân nửa dân số, những thành phần ưu tú  này đã sử dụng mạng thông tin xã hội trả đũa TC. Dân  Internet, dân «Facebook» ai có ngón nghề nào đánh kiểu ấy, “đánh xả láng sáng về sớm”, nhất tề đánh, “đồng khởi” phản công TC. Không dè đạt, không  tránh né khiêu khích. Tố TC trên Facebook là “cướp biển”, hàng hoá TC là một thứ  «ung thư».  

Nhờ kỳ công của cộng đồng VN trên mạng, thông tin, nghị luận, hình ảnh nào CS Hà nội quyết tâm bưng bít đều có trên Internet dưới nhiều hình thức được Internet chuyển đi. Mọi cuộc khiếu kiện của dân oan, cầu nguyện đòi đất của tín đồ Công Giáo vừa xảy ra đàn áp là cả thế giới biết. Vụ Đảng Nhà Nước nhu nhược trước việc TC xâm chiếm Hoàng sa Trường sa, Biển Đông, vụ  cho TC khai thác Bauxite bị phanh phui. Căn nhà sang trọng như cung điện, vườn rau sạch trên lầu của Lê khả Phiêu ở Hà nội, phủ thờ gia đình của Nguyễn tấn Dũng lớn hơn cái đình làng, lớn hơn đền thờ Nguyễn trung Trực ở Rạch Giá;  Nguyễn tấn Dũng đeo cây kiếng mát giá 50,000 Đô la, hình ảnh, tin tức đều được “vi hữu” VN đưa lên Internet.

Ba và sau cùng, thế giới sử đã chứng minh trong mọi thời đại lực lượng nào nắm vững và vận dụng sáng tạo được vũ khí mới sẽ thắng. Thời đại này là thời đại của khoa học, kỹ thuật tin học, nói gọn là kỹ thuật số. Người dân Tunisia, Ai cập, Libya, đã dùng phương tiện kỹ thuật số để phát huy chánh nghĩa,vận động, huy động đồng bào, phát động cuộc biểu tình lật nhà cầm quyền tạo nên Mùa Xuân Á rập. 

Còn trong chế độ độc tài CS khắc nghiệt và ác nghiệt hơn nhiều, người dân trong hai chế độ CS lớn còn sót lại ở Á châu là Trung Cộng và Việt Cộng, cũng đang dùng vũ khí kỹ thuật số dấu tranh chống Cộng, tạo thành truyền thông điện tử mang hình thái nhân dân đích thực, kết nối người dân hình thành một phong trào đối kháng với đảng nhà nước CS.

Người dân bị trị trong chế độ độc tài trong đầu thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ ba chọn truyền thông kỹ thuật số hay điện tử để đấu tranh. Các dân tộc trong thế giới Á rập đã thắng, người Trung Hoa và Việt Nam có quyền tin tưởng vào thế tất thắng của mình./.


Đổi Vàng Thiệt Ra Vàng Giấy

Vi Anh

Trong một tuần lễ mà có ba tin buồn cho người dân Việt ở nước nhà Việt Nam: CS Hà nội đổi vàng thiệt ra vàng giấy; Ngân Hàng Thế Giới cho biết 100 năm sau thu họach của người dân Việt cũng không bằng người dân Phi, Thái, Mã; và Liên Hiệp Quốc cho biết hầu hết dân chúng VN không tin nhà nước thật sự muốn dẹp tham nhũng.

Một, CS Hà nội ra thông tư đổi vàng thiệt của dân gởi thành vàng giấy trả lại cho dân. Có người nói đây là chuyện tưởng như đùa nhưng có thật. Nhưng thực tế CS không phải là những người hay đùa mà những người “cướp ngày là quan”. Họ vẫn đang giở trò cũ để cướp vàng của dân như đã từng làm sau khi chiếm được Miền Nam tổ chức đổi tiền bắt dân nạp tất cả tiền mặt nhưng trả lại vài trăm với tấm giấy lộn là tờ biên nhận thu mà không bao giờ trả lại số tiền đã nhận. Như bắt dân phải  trả số thuế mà VNCH chưa kịp thu, số nợ thiếu chánh quyền chưa trả, phải trả không thiếu một đồng nhưng tài khỏan ngân hàng mà Đảng Nhà Nước “tiếp thu” không trả cho người gởi một cắt nào. Làm người dân Miền Nam qua một ngày đổi tiền đã sạch túi và sạch nhà sạch cửa.

Bây giờ sau hai thập niên chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nông dân đổ mồ hôi, biến VN thành nước xuất cảng gạo số hai trên thế giới, công nhân bị kềm tiền công làm không đủ ăn để giá thành hàng hóa VN thấp, xuất cảng bán giá rẻ mạt, và người Việt hải ngọai mỗi năm gởi về bảy tám tỷ Mỹ kim, Đảng Nhà Nước, cán bộ đảng viên túi tham không đáy, thành các đại gia giàu nứt đố đổ vách vẫn còn muốn vét láng của chìm, của nổi của dân nữa.

Từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, mở cửa cho đầu tư ngọai quốc vào, CS Hà nội cho dân gởi vào ngân hàng chánh yếu là “ngân hàng nhà nước” tiền tiết kiệm bằng đô la và vàng, khuyến khích nữa là đằng khác, cho lãi suất cao, gởi vàng trả lại bằng vàng, gởi đô lấy lại bằng đô.

Gần đây nhơn danh chống lạm phát, CS Hà nội “quản lý” vàng và đô, cấm tư nhân không được sản xuất vàng lá, kinh doanh vàng và đô, chỉ có cơ quan nhà nước, ngân hàng nhà nước mới được làm việc này. Và nhơn danh chủ quyền quốc gia cấm người dân và tư nhân thanh tóan, giao dịch bằng vàng và đô. Đồng thời để thu hút dân gởi nhiều tiền và vàng vào ngân hàng nhà nước, Đảng Nhà Nước tăng lãi suất  cho số quí kim, ngọai tệ gởi vào ngân hàng.

Bẫy, tới giờ CS Hà nội đã gài bẫy khá sâu, con mồi vô nhiều bây giờ CS “đột xuất” giựt cho dân sụp bẫy. Cũng như hồi mới vào Miền Nam, CS Hà nội nằn nằn quyết một tuyên bố không đổi tiền, chiều ngày trước còn tuyên bố mạnh như thế, nhưng sáng sớm hôm sau thì “đột xuất” đổi tiền, trong một ngày vét sạch tiền giấy của dân, dân nộp bao nhiêu cũng chỉ trả lại cho vài trăm lấy có mà thôi. 

Bây giờ CS Hà nội cũng làm thế, ra thông tư vét sạch vàng của dân gởi ngân hàng nhà nước. Thông tư qui định vòng vo, mắc nghéo nhưng đại ý giản dị là các ngân hàng không được  xuất vàng ký gởi để  trả vàng lại người đã gởi bằng vàng. Mà ngân hàng chỉ trả lại bằng một tấm giấy chứng nhận có gởi vàng cho người ký gởi mà thôi. Nói một cách bình dân dễ hiểu người dân gởi vàng thiệt cho ngân hàng nhà nước, thì ngân hành nhà nước trả vốn lại cho người dân bằng vàng giấy là chứng chỉ của ngân hàng. 

Tờ giấy đó nếu đem xài chắc chắn giá trị và mãi lực sẽ mất rất nhiều. Còn muốn đổi lại lấy vàng thiệt thì họa may xuống chín tầng địa ngục kiếm Ô. Hồ chí Minh mà khiếu kiện, thì số phận như Dân Oan bị cướp đất, cướp nhà qua qui hoạch trả rẻ mạt như giựt của dân và đi khiếu kiện cán bộ đảng viên thì đâu có khác gì “con kiến kiện củ khoai” nhu ca dao nói và như  “Con ong, cái kiến kêu gì được oan” như Nguyễn Du viết về tham quan ô lại trong Truyện Kiều bên Tàu.  

Vì Thông tư số 12/2012/TT-NHNN  của Thủ Tướng và Ngân Hàng Nhà Nước qui định các tổ chức tín dụng không được huy động vốn bằng vàng, trừ trường hợp phát hành chứng chỉ ngắn hạn bằng vàng để chi trả vàng theo yêu cầu của khách hàng khi số vàng thu nợ và tồn quỹ không đủ để chi trả. 

Hai, Ngân Hàng Thế Giới của Liên Hiệp Quốc cho biết hàng trăm năm sau lợi tức của người dân Việt cũng không bằng người dân Phi, Thái, Mã. Hiện tại nếu tính theo lý thuyết tổng sản lượng bình quân trên đầu người của nước Việt Nam bằng 3 phần 4 của Philippines hay Indonesia, khoảng 1 phần 3 của Thái Lan, và 1 phần 5 của Malaysia. Nhưng trên thực tế thì có khác vì trong tổng sản lượng của VN, có một số người là đảng viên, cán bộ CS và những người ăn theo tuy chỉ có khỏang 4% dân số, nhưng chiếm trên 75% tài sản tòan dân và quốc gia. Nên nếu tính thu họach của người dân thường thì người dân VN phải mất một trăm năm nữa mới bằng người dân Phi, Mã, Thái, Nam Dương.

Nếu người Việt nào thời VNCH có đi du lịch hay công du ở các nước này ắt sẽ buồn lắm, vì thời VNCH dù có chiến tranh, người dân VN sống sung túc hơn những người dân ở các nước vừa kể. 

Sưu khảo trên đây không phải do tổ chức của người Việt hải ngọai làm để CS Hà nội vu cáo là do “lực lượng thù địch vì nặng quá khứ nên quá khích” với CS, nói xấu chế độ CS Hà nội. Trái lại đây là sưu khảo của Đại Học Kinh Tế Quốc Dân của chề độ CS Hà nội làm, được trình bày trong cuộc hội thảo “Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020: từ nhận thức với hành động” do CS Hà nội tổ chức.

Phối kiểm với tài liệu của  Ngân Hàng Thế Giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan, và 158 năm so với Singapore.

Ba, sưu khảo của Liên Hiệp Quốc cho biết hầu hết dân chúng VN không tin nhà nước thật sự muốn dẹp tham nhũng. Liên Hiệp Quốc phối hợp với nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam thực hiện một cuộc thăm dò, hỏi ý kiến của hơn 13,600 người dân trên khắp nước. Kết quả được công bố ngày Thứ Năm 3-5 mới đây, rằng tệ nạn tham nhũng có ở tất cả các ngành của guồng máy công quyền. 31% nói có tệ trạng hối lộ trong ngành y tế; 21% nói có hối lộ khi xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, và 16% nói có hối lộ khi xin giấy phép xây dựng.

Trong trường học cũng có hối lộ,17% cho biết phụ huynh phải hối lộ giáo viên và ban “giám hiệu”. 13% người dân cho rằng các viên chức công quyền dùng tiền công quỹ vào mục đích riêng, thường như cơm bữa.

Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2011, xếp hạng tham nhũng Việt Nam thứ 121 trong 183 nước được khảo sát. 

Năm 2010, Gallup International, một tổ chức thăm dò chuyên nghiệp và có uy tín,  thực hiện một cuộc thăm dò cho Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế chỉ rõ, hơn 60% dân chúng Việt Nam nói công an là ngành tham nhũng nhất Việt Nam. 

Từ Đỗ Mười, Lê đức Anh, Võ văn Kiệt, Phan văn Khải, Tổng bí Thu, Chủ Tịch Nước, Thủ Tướng ai lên cũng tố tham nhũng xả láng, tuyên bố bài trừ tham nhũng mút mùa. Thủ Tướng Nguyển tấn Dũng nhiệm kỳ đầu hứa bài trứ tham nhũng trong hai năm không được sẽ từ chức,  nhưng hết 4 năm thủ tướng thì  chạy chọt “hy sanh” làm thêm một nhiệm kỳ kế, chớ không phải chót, dù tập đòan Vinhashin mà Ông là người đỡ đầu làm mất hết 4 tỷ Đô la của công. Còn Ông tân Chủ Tịch Nước Trương tấn Sang nói không phải chỉ một con sâu mà cả bầy sâu trong nồi canh Đảng Nhà Nước, nhưng không thấy Ông động đến một con sâu nào cả. 

CS trị tham nhũng làm sao được, trị tham nhũng hết thì Đảng Nhà Nước còn ai mà xài. Đảng Nhà Nước CS Hà nội là độc tài đảng trị tòan diện, mà độc tài là cha sanh mẹ đẻ của tham nhũng kia mà.

TÌNH HÌNH TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG CÓ THAY ĐỔI?

 

Võ Long Triều

Thực thi hợp đồng giữa công ty ONGC-Videsh và Petrovietnam được thỏa thuận ký kết nhân chuyến viếng thăm Ấn Độ của Chủ tịch Trương Tấn Sang, công ty Ấn tiến hành khảo sát tìm dầu khí trong khu đặc quyền 200 hải lý thuộc vùng lãnh hải ngòai khơi Việt Nam. Trung Quốc liền cảnh cáo Ấn Độ không được phép khai thác dầu khí ở biển Đông bởi vì khu vực nầy thuộc chủ quyền của Trung quốc “không thể tranh cả”. Ông Ngô Sĩ Tôn, Viện trưởng viện nghiên cứu Nam Hải nói: “Ấn Độ sẽ trả giá đắc cho việc khai thác dầu với Việt Nam. Ông Tôn còn nhấn mạnh rằng công ty ONGC-Vidish của Ấn nên “phân tích lợi hại về rủi ro kinh tế và chính trị”.
Lời cảnh cáo kèm theo sự đe dọa của Tàu cộng không ảnh hưởng quyết định giao dịch có tính cách thương mại của Ấn Độ đối với Việt Nam. Ngược lại, Ngọai trưởng S.M. Krishna công khai xác định “biển Đông thuộc sở hữu của tòan thế giới, không một quốc gia nào được can thiệp cản trở họat động thương mại tại đây”. Thái độ cứng rắng của Tân Dehli còn thể hiện qua lời tuyên bố của ông Ashwani Kumar, Bộ trưởng Kế họach-Khoa học-Công nghệ xác nhận: “Ấn Độ có đủ khả năng để bảo vệ các lợi ích tài chánh và chiến lược của quốc gia mình”.
Sự cảnh cáo của Tàu cộng đã từng có hiệu năng đối với các công ty dầu hỏa của Mỹ và Anh quốc, Exon và British Petrolum, trong thập niên qua. Kể cả đối với Ấn Độ mặc dù đã trúng thầu và có giấy phép khai thác hai lô 127, 128 tại trũng Phú Khánh ngòai khơi biển Đông từ năm 2006, nhưng đành phải làm ngơ trước sự hâm dọa rất hung hăng bằng vũ lực của Bắc Kinh. Hiện nay tình hình có thay đổi, ngày 5 tháng 4 Nga tuyên bố nhảy vào khai thác hai lô Hải Thạch 5.2 và Mộc Tinh 5.3 tại trũng Nam Côn Sơn do công ty Exon hủy bỏ hợp đồng năm 2009. Công ty Gasprom của Nga tuyên bố đã khaon trúng mỏ khí đốt khổng lồ. Dĩ nhiên Trung cộng vẫn phản đối lấy lệ nhưng không hề dám khấy rối hay chống quan thầy củ bằng vũ lực, mà chỉ tố cáo Hà Nội đưa Nga vào để cân bằng với Trung Quốc. Trước đó tàu Trung cộng đã từng ngang nhiên cắt đứt giây cáp hai tàu khảo sát, Bình Minh 2 và Viking 2 của Việt Nam họat động gần bờ biển của mình.
Sự trừng lên của Trung Quốc về kinh tế và nhứt là về quân sự cho phép họ có thái độ hung hăng hổ trợ cho sự bành trướng bá quyền tại Á Châu và biển Đông trong thập niên đầu thế kỷ XXI. Họ ngang nhiên nới rộng lãnh hải bằng cái lưỡi bò liếm trọn 80% diện tích biển Đông nơi mà cả thế giới xác nhận có trữ lượng dầu hỏa to lớn không thua vùng Vịnh. Do đó Trung cộng càng động lòng tham bài trò cấm cờ quốc gia của họ dưới đái biển Đông, với ý đồ xác nhận cái “Hồ” rộng mênh mông mà họ gọi là biển Nam Hải là của Trung quốc. Rồi tự nhiên tàu Trung Quốc luôn luôn đụng chìm ngư thuyền Việt Nam, cướp của, bắt người đòi tiền chuộc mạng mà cộng sản Hà Nội không dám lên tiếng phản đối, lại còn buộc báo chí trong nước phải gọi là “tàu lạ”.
Đã vậy Trung Quốc còn ra thông cáo cấm đánh bắt cá trong vùng “lưỡi bò” những tháng giữa năm là mùa cá đang sinh sản. Sự lố bịch và ngang ngược của Trung cộng thể hiện qua sự kiện ép tàu khảo sát của Mỹ phải đổi hướng. Thái độ trịch thượng nầy làm cho Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương lo ngại.
Từ đó Ngọai trưởng Mỹ tuyên bố Hoa Kỳ sẽ trở lại Á Châu, Đô Dốc Willard khẳng định lực lượng Mỹ sẽ luôn hiện diện tại Thái Bình Dương để gình giữ hòa bình và ổn định khu vực. Tổng thống Barack Obama đưa ra kế họach tổ chức kinh tế Á Châu-Thái Bình Dương tại hội nghị Hawai. Và chính sách ngọai giao Hoa Kỳ chuyển hướng rõ rệt vế Chấu Á bằng sự kết thân chặt chẻ trở lại với Philippines, Nhật Bản, Đại Hàn, Singapor, Thái Lan và Việt Nam. Chủ trương của Hoa Kỳ bao vây Trung Quốc còn thể hiện qua sự liên kết quân sự với Úc Châu và thân thiện với Ấn Độ. Những cuộc tập trận thường xuyên của Mỹ, Philippines, Đại Hàn, Nhật Bản khiến Trung Quốc chỉ trích và cho là hành động khiêu khích, tuy nhiên trên thực tế điều đó làm cho Hán Tộc bớt hung hăng, khởi sự đấu diệu muốn tìm giải pháp hợp tác hòa bình.
Bắt đầu đó Việt Nam mới dám cất đầu phản đối ông láng giềng hữu nghị và đồng chí tốt. Tuy nhiên sự đi giây chính trị và ngọai giao của Hà Nội lúc nào cũng kèm theo một đại diện sang Tàu để nỉ non lập lại 16 chữ vàng và 4 cái tốt. Gần đây nhứt có ba tàu chiến Mỹ sang Việt Nam hợp tác huấn luyện thì Trung tướng Tổng tham mưu trưởng Đổ Bá Tỵ sang Trung Quốc xác định mối quan hệ “láng giềng hữu nghị” và được Tập Cận Bình chỉ dạy “phải kiên trì chủ nghĩa Mác” phải hiểu rằng “vận mệnh hai nước Trung-Việt có liên quan chặc chẻ với nhau”.
Giả tâm lường gạc là sở trường của cộng sản. Tàu cộng tự hào đồng chí “Tốt” nhưng cướp ngư thuyền Việt Nam, chiếm hải đảo của láng giềng. Vậy thì Hà Nội củng theo gương quan thầy là xác nhận 16 chữ vàng nhưng vẫn yêu cầu Nước ngòai can thiệp và đơn phương thỏa hiệp khai thác dầu với Ấn Độ, Nga và còn nhiều công ty dầu khí của các nước khác rất muốn hợp tác với Việt Nam. Dù sao tình hình mới, do Hoa Kỳ bao vây Trung Quốc, Ấn Độ thách thức, Nga Sô can dự khai thác hai lô Hải Thạch và Mộc Tinh, giúp cho phát ngôn viên của bộ Ngọai giao Hà Nội, Lương Thanh Nghị lớn vọng tuyên bố: “Việt Nam cam kết và có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các đối tác nước ngòai làm ăn với Việt Nam”. Trong khi đó Hà Nội vẫn để cho ngư dân của mình bị Tàu cộng bắt, đánh đập và buộc phải nộp tiền chuộc mạng mà không “có trách nhiệm bảo vệ” như đã tuyên bố!
Thái độ lộng hành của Trung cộng, từ chổ không có, dựa vào sức mạnh khẳng định là chủ quyền của mình, rồi lấn áp cho đến khi phải đấu diệu xin hợp tác khai thác, mọi bên đều có lợi, rõ ràng “lộng giả thành chân”. Riêng Việt Nam vuớng mắc quá nhiều với quan thầy Bắc Kinh đành chịu gở gạt được phần nào thì hài lòng chừng ấy.
Tình thế buộc phải duy trì sự ổn định trong khu vực và tình trạng dẫn đến sự tạm thời hợp tác khai thác chung vì vậy vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên những quần đảo Hòang Sa và Trường Sa vẫn còn đó. Chờ khi cộng sản Hà Nội hay bá quyền Bắc Kinh bị xóa bỏ chừng đó vấn đề chủ quyền có thể đặt lại bất cứ lúc nào khi tình hình quốc tế hay khu vực cho phép. Đặc biệt nếu Bắt Kinh sụp đổ thì việc khôi phục chủ quyền đảo Hòang Sa và số đảo thuộc Trường Sa càng dễ dàng hơn.
“Ngày càng nhiều công ty dầu khí của hàng chục quốc gia trên thế giới sẵn sàng hợp tác với Việt Nam và ngày càng có thêm nhiều tin vui về những thành quả của sự hợp tác này cho thấy cộng đồng quốc tế, mà đặc biệt là các doanh nghiệp dầu khí hàng đầu thế giới, tự tin vào chủ quyền và chính nghĩa của Việt Nam trên các khu vực khai thác ở Biển Đông.”

Báo Wall Street Journal (WSJ) trong bản tin gửi từ Houston, Texas, nơi Exxon Mobil đặt đại bản doanh, cho hay hãng này đã tìm thấy dầu sau mũi khoan thứ hai hồi tháng Tám ở ngoài khơi miền Trung Việt Nam.

Mũi khoan đầu tiên đã được thực hiện hồi tháng Tư nhưng không có kết quả.
WSJ dẫn lời một người phát ngôn của Exxon nói hôm thứ Ba 25/10 rằng các thông số thu được từ giếng khoan số hai nằm trong lô 119 ngoài khơi Đà Nẵng đã được chuyển đi phân tích tiếp.
Lô 119 nằm ngoài khơi thềm lục địa Việt Nam, thuộc vùng biển các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Quảng Nam, rất gần đường chín đoạn mà Trung Quốc lập ra để đòi hỏi chủ quyền Biển Đông. Đường yêu sách này còn được gọi là đường ‘lưỡi bò′, bao quanh tới 80% diện tích Biển Đông.
Thông tin mới loan ra mang tầm quan trọng đặc biệt, không chỉ trong lĩnh vực dầu khí mà còn trong khía cạnh khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại khu vực.
Nó cũng cho thấy thái độ mạnh bạo của công ty Hoa Kỳ trong việc tiếp tục theo đuổi các dự án làm ăn với Việt Nam cho dù bị áp lực từ Trung Quốc.
Hồi tháng 7/2008, Trung Quốc đã gây sức ép buộc ExxonMobil ngừng dự án với Việt Nam tại khu vực mà Bắc Kinh nói là thuộc chủ quyền Trung Quốc.
Dự án bị Trung Quốc phản đối lúc đó nằm trên thềm lục địa phía Nam, gồm các lô 135 và 136, khu vực Tư Chính – Vũng Mây của bồn trũng Nam Côn Sơn. Exxon lúc đó không tuyên bố rút lui, nhưng sau đó cũng không có thêm thông tin gì về tiến độ dự

WSJ dẫn lời phân tích gia Phil Weiss từ công ty Argus Research nói: “Khó có thể bình luận tầm quan trọng của phát hiện mới này khi chúng ta chưa biết trữ lượng, nhưng chắc chắn đây là tin tốt đối với Exxon vì khu vực khoan dầu được nhiều người cho là giàu tiềm năng”.
Nhiều công ty nước ngoài đã tìm thấy dầu tại khu vực này, như Petroliam Nasional Bhd. của Malaysia, Premier Oil Plc. của Anh, Gazprom OAO của Nga và Total SA của Pháp.
Giếng khoan của ExxonMobil ở lô 119, nếu nhìn trên bản đồ trực tuyến mà chính Trung Quốc đưa ra, nằm hoàn toàn trên thềm lục địa của Việt Nam, nhưng cận kề một trong chín đoạn của ‘đường lưỡi bò′.
Gần lô 119 là lô 120, mà Công ty thăm dò – khai thác dầu khí Neon Energy của Úc đã cùng đối tác Việt Nam thăm dò địa chấn hồi tháng Năm năm ngoái.
Lúc đó phía Việt Nam đã phải cử tàu hải quân ra hộ tống công việc thăm dò của Neon vì sợ phản ứng của Trung Quốc.
Ngoài lô 119, ExxonMobil còn có dự án thăm dò ở hai lô kế cận là 117 và 118, đều nằm trong vùng thềm lục địa miền Trung Việt Nam.
Tiềm năng dầu khí nếu được chứng thực ở các lô trên thềm lục địa Việt Nam có khả năng sẽ làm tranh chấp chủ quyền tại khu vực thêm gay gắt.
Bằng nhiều cách, Trung Quốc đã gây áp lực buộc nhiều công ty nước ngoài muốn làm ăn với Việt Nam phải rút lui.
Thế nhưng trong khi các hãng dầu như BP của Anh chấp nhận ngừng dự án, thì các công ty Mỹ, được tin là có hậu thuẫn của Washington, giữ thái độ kiên quyết hơn.

Tập đoàn dầu khí nhà nước Trung Quốc CNOOC sẽ bắt đầu tiến hành thăm dò ngoài khơi tỉnh Preah Sihanouk của Campuchia trong tháng 10 này.
Báo Campuchia loan báo việc thăm dò dầu khí “sẽ được thực hiện tại Lô F, nằm cách tỉnh Preah Sihanouk gần 40km về phía Nam”.
Nếu nhìn trên bản đồ của cơ quan dầu khí Campuchia, người ta sẽ thấy Lô F (Bloc F) nằm trong Vịnh Thái Lan, ngay bên cạnh đảo Phú Quốc của Việt Nam.
Khoảng thời gian để tập đoàn CNOOC làm công việc thăm dò là từ tháng 10-tháng 12 năm nay.

Hồ Cầm Đào thúc giục Việt Nam hợp tác, cùng khai thác ở vùng biển tranh chấp. “Trung Quốc sẵn sàng khai thác chung với Việt Nam ở các khu vực trên Biển Đông. Hai bên không để vấn đề hàng hải ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa hai nước và hai đảng. Hai nước cần duy trì đối thoại và ngăn chặn những khác biệt có thể trở nên phức tạp hơn”[1].

Obama và Sarkozy

Vi Anh

Hai tổng thống thân tình của hai nước lớn Pháp và Mỹ ở hai bên bờ Đại Tây Dương chúc nhau thắng cử, giờ đây chỉ còn một, và một đó cũng phải tái tranh cử trong năm nay, chưa biết số phận người dân Mỹ dành cho mình ra sao. Người đi ngậm ngùi, kẻ còn ở lại một thời gian âu lo với con người mới và tình hình mới. Đó là trường hợp TT Sarkozy và TT Obama sau cuộc bầu cử tổng thống vòng hai chung quyết ở Pháp.

Thực vậy, ngày 12 tháng Tư năm 2012, Tổng Thống Sarkozy nói vơi TT Obama, «Nous allons gagner, toi et moi, M. Obama, ensemble» hay “Chúng ta sẽ thắng, anh và tôi, Ô Obama, cùng nhau”. TT Obama nói «Và thực sự tôi hòan tòan ca ngợi cuộc chiến đấu mà Anh đang điều hành”. Đây là một cuộc đàm thọai của hai tổng thống hai nước, thực hiện tại Điện Elysée và Tòa Bạch Ốc, tức hai phủ tổng thống của hai nước, hai cơ quan Hành Pháp hàng đầu của quốc gia. Theo qui tắc tổ chức chánh quyền, đó là cuộc đàm thoại chánh thức liên quan đến chuyện quốc gia đại sự, theo lẽ thông thường chỉ hai vị mà thôi, cùng lắm với một vài phụ tá chuyên môn và thông dịch viên lá quá lắm rồi. Nhưng cuộc đàm thọai này TT Sarkozy lại mời báo chí tham dự. Lời nói của TT  Sarkozy,  báo Figaro của Pháp lấy làm tựa của một tin quan trọng. Và thông tấn xã của Pháp đi tin và hình tòan nước Pháp và thế giới. Cách tổ chức đàm thọai trực tiếp, trực tuyến và truyền hình của hai tổng thống có mặt báo chí này cho thấy hai tổng thống tái ứng cử muốn dùng phương tiện quốc gia cho việc vận động tranh cử. Nên người ta không ngạc nhiên tại sao hai vị tổng thống lại phá lệ những trao đổi ngọai giao trực tiếp về quốc sự lại được phổ biến tổng quát như vậy. 

Ngày 6 tháng 5, lúc 20 giờ 20 phút ở Pháp, TT Sarkozy thất cử, đã chính thức lên tiếng thừa nhận thất bại trước sự đắc cử tổng thống Pháp của Ô. François Hollande, của đảng Xã hội Pháp, trong vòng bầu cứ thứ hai. Kỳ bầu cứ thứ hai này cử tri Pháp đi bầu đông hơn kỳ nhứt hồi 22/04 . Kết quả bầu cử cho thấy, thái độ bất mãn của các công dân Pháp đối với các biện pháp kiệm ước, khắc khổ gắt gao mà TT Sarkozy đã cỗ võ cùng với Liên Âu.

Ngày Chủ Nhựt 6 tháng Năm bầu tổng thống Pháp dù là Chủ nhựt, nhưng chắc là một “ngày dài”  của TT Obama và Tòa Bạch Ốc, cơ quan đầu não của nội các của chánh quyền của TT Obama. TT Obama và bộ tham mưu thân cận của Ông ắt lo lắng, bồn chồn chờ kết quả coi người “bạn” của TT Obama, là TT Sarkozy số mạng mà người dân Pháp dành cho Ông ra sao.

Nỗi lo bao trùm cả Phủ Tổng Thống và Đảng Dân Chủ đang cầm quyền sắp bầu cử tổng thống lại, như hồi năm 1981, TT François Mitterrand, một lãnh tụ của Đảng Xã hội Pháp như TT Hollande mới đắc cử sẽ nắm chánh quyền nước Pháp. Nhưng thời TT Mitterrand, nỗi lo đó sờm tan biến vì chánh quyền do Đảng Xã hội Pháp chấp chánh không bao lâu sau tuyên bố sẽ đứng về phía các dồng minh trong đó Mỹ là trụ cột. 

Còn bây giờ mối lo của TT Obama và nội các chánh phủ của Đảng Dân Chủ rất lớn khi Ô Hollande Đảng Xã Hội Pháp thắng cử. Tuy đề cương “xã hội” của Đảng Dân Chủ ở Mỹ gần với Đảng Xã hội Pháp, TT Obama có nhiều chủ trương “xã hội” đến đổi một số chánh trị gia  Cộng Hòa và dân Mỹ bảo thù xem Ông là “xã hội chủ nghĩa”, một danh từ không tốt ở Mỹ, chánh quyền Obama  vẫn rất lo ngại. Lo ngại một cuộc khủng hỏang giữa Washinton và Paris, hai bờ Đại Tây Dương không gần nhau như thời Sarkozy. 

Nhà bình luận Jim Hoagland của tờ báo  Washington Post gối đầu giường của chính khách Mỹ viết “ở Washington, không ai biết Ô Hollande, ngay đối với những chuyên gia về Pháp”. Ứng cử viên Hollande hồi tháng ba không dành thí giờ đến thủ đô Mỹ, chỉ gởi vài đặc phái viên đến thôi. Trong khi Sarkozy  trái lại coi Mỹ như  một nơi ưu tiên trong chiến dịch tranh cử năm 2007. 

Còn nhà chánh trị học James Poulos viết trên tạp Foreign Policy một bài với tựa đề «Après moi le déluge» hay “Sau tôi là Trận Hồng Thủy”  nói về ảnh hưởng của  việc mất chánh quyền của TT Sarkozy đối với Mỹ. 

Bất ổn bao trùm thị trường thế giới sau các cuộc bầu cử Châu Âu, với hai cuộc bầu cử ở  Hy Lạp và Pháp. Nhứt là ở Pháp, Ô Hollande lên vốn là người bất đồng ý kiến với Ô Sarkozy chủ trương kiệm ước, thắt lưng buộc bụng cùng với TT Đức, một con sư tử về hình dáng quốc gia và lịch sử Âu châu dưới cái nhìn của Pháp và đầu tàu kinh tế Âu chậu hiện tại. 

Thị trường tài chính Âu, Á, Mỹ giảm mạnh. Chỉ số Nikkei của Nhật Bản giảm 2.8%, của Hongkong giảm 2.6%,  New York mới mở cửa 1 euro giảm dưới 1.30 mỹ kim sau đó nhích lên một chút. 

TT  Obama hôm Chủ Nhật theo nghi thức đã chúc mừng ông Hollande, và không quên mời ông Ô Hollande đến thăm Tòa Bạch Ốc trước hội nghị thượng đỉnh G-8 và NATO vào cuối tháng này. 

Trong thời TT Sarkozy, chánh quyền của TT Obama coi chánh quyển của TT Sarkozy là một đồng minh quí giá, Ô Sarkozy là một người bạn Mỹ thân thiết, từng đưa nước Pháp  hòa nhập vào hàng ngũ lãnh đạo chỉ huy của Khối Liên Phòng Bắc Đại Tây Dương do Mỹ đóng vai trò chủ chốt và cắt đứt nước Pháp với chủ thuyết và chính sách De Gaulle. Pháp đã đóng vai trò xung kích trong cuộc hành quân ở  Libya, hòan tòan khác với thái độ và hành động của Pháp  đối với Mỹ trong cuộc hành quân của Mỹ chống lại Iraq. 

TT Obama lo và nội các của Ông bối rối trước vấn đề không biết  sự thay đổi con người tổng thống ở Pháp có thay đổi tình hình ở Pháp và Liên Âu hay không. Dù Đảng Xã Hội ở Pháp mà TT Hollande là đảng viên gần gũi với đề cương của Đảng Dân Chủ ở Mỹ, việc tiết giảm khiếm hụt ngân sách của Pháp và Liên Âu có thế tạo thành một cơn bão tài chánh. Nếu cơn bão này xảy ra ngay thời kỳ  bầu cử của TT Obama là một bất lợi cho cuộc tranh cử của Ông, theo như nhận định của nhà bình luận Jim Hoagland của báo Washington Post. 

Nên không lấy gì làm ngạc nhiên khi TT Obama làm một điều có tánh nghi thức chúc mừng Ô Hollande đắc cử, TT Obama long trọng mời Ô Hoalande viếng thăm nước Mỹ, và hẹn gặp nhau ở Camp David trong cuộc họp G8 theo lịch trình ấn định trước vào 19 tháng Năm, và kế đó là ở Chicago trong cuộc họp thưởng đĩnh của một số nước có  góp quân  ở Afghanistan và đóng góp quỹ để cứu nguy ngân sách trong cuộc khủng hỏang tài chánh vừa qua. Như đã biết trong cuộc tranh cử TT Hollande đã hứa sẽ rút quân vào cuối năm  2012, trước thời hạn TT Obama đề nghị.


Tử huyệt của CS Hà Nội

 

Võ Long Triều

 

Sự cưỡng chế đất đai kéo dài bao nhiêu năm qua, tiếng kêu oan, than oán của đồng bào ngày càng ầm ĩ. Lòng uất hận dẫn đến tuyệt vọng khiến có người tự thiêu trước cơ quan đại diện quốc hội ở Hà Nội. Sự bất bình phẫn nộ, chống bất công đàn áp, biến thành bạo động dùng súng và bom tự chế như ông Đoàn Văn Vươn ở huyện Tiên Lãng. Những sự kiện nầy người ta sẽ còn thấy mãi cho đến khi nào độc tài độc đảng cộng sản bị nhân dân đào thải.

Điều làm cho con người phẫn nộ nhứt là thấy gia đình bị cướp đoạt, bị xô đẩy vào tình trạng sống lang thang, màn trời chiếu đất. Nhìn lại rất nhiều nơi trên toàn cõi đất nước, có biết bao nhiêu dân kêu oan vì bị cướp đất không bồi thường, hoặc hứa bồi thường rồi bỏ lơ, hay bồi thường cho có lệ không đủ để người dân có điều kiện làm lại cuộc đời, sinh sống bình thường bằng sức lao động của mình. Đảng viên cộng sản tước đoạt quyền làm người của họ một cách bất ngờ, đột ngột khi họ tự ý quyết định thu hồi đất đai nhà cửa với lý do quy hoạch kinh tế để rồi bán lại với giá cao mười lần, trăm lần hơn, hoặc trao lại cho gia đình hay người thân của đảng viên cầm quyền. Lẽ dĩ nhiên với sự bao che và chia chác của hệ thống chỉ huy cao hơn, một loại dây chuyền tham nhũng có tổ chức trong nội bộ đảng mà ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang buộc lòng phải tố cáo là có một bầy sâu trong đảng. Cộng sản Hà Nội ngang nhiên vi phạm điều 17 luật quốc tế nhân quyền mà chính họ đã không ngần ngại ký kết phải tôn trọng khi gia nhập tổ chức Liên Hiệp Quốc, nhưng thực tế không khi nào tuân theo!

Những người bị tước đoạt quyền sống đó là những ai? Không phải là “bọn ngụy quân ngụy quyền” đã bị “cách mạng” ruồng rẫy, trả thù, nên đa số chối từ cộng sản, bỏ nước ra đi gần hết từ lâu rồi. Còn lại là thường dân chấp nhận số phận, sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Có người đã từng nuôi dưỡng đảng viên nội tuyến, hoặc họ là thân nhân hay gia đình cách mạng, những người nhẹ dạ theo đảng, bây giờ nghỉ hưu, đeo mề đai đỏ ngực đi biểu tình kêu oan vì bị cướp đất. Họ vẫn bị giải tán bằng dùi cui, bị khiêng quăng lên xe bất kể già trẻ, đồng chí hay kẻ thù!

Đảng cộng sản từ khi mới ra đời chủ trương đấu tranh giai cấp, lấy “công nông” làm trọng. Giai cấp công nhân là đội tiên phong, là thành phần tiến bộ, giai cấp nông dân là nòng cốt góp phần thực hiện cuộc cách mạng vô sản.

“Điều 2 hiến pháp xác nhận Nhà nước CHXHCN… mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân…”. Mục tiêu tranh đấu của đảng là chống tư sản bốc lột, đòi công bằng xã hội. Thế mà giai cấp nông dân đang gánh chịu mọi sự bất công và đàn áp. Mặc dù điều 8 hiến pháp quy định rõ ràng: “… Cán bộ viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, và chịu sự giám sát của nhân dân kiên quyết chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng”.

Đọc những dòng chữ xảo ngôn của hiến pháp cộng sản người ta không thể nhịn cười nghĩ rằng sự mưu mô xảo quyệt tinh vi đến thế là cùng.

Ngày nay chiếm độc quyền cai trị đất nước cộng sản Hà Nội phản bội nông dân trước tiên, chúng đoạt quyền sinh sống của nông dân một cách hợp pháp với 2 điều 17 và 18 hiến pháp năm 1992 viết như sau:   Điều 17 “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất… tài sản mà pháp luật quy định là của nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân. Liền sau đó điều 18 quy định: Nhà nước thống nhất quản lý toàn bột đất đai…”. Rõ ràng hơn nữa phải cộng thêm điều 1 của luật đất đai năm 1993 ấn định chính xác: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý” và điều 1 luật đất đai năm 2003: “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai”.

Tưởng cũng nên trích dẫn quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định như sau: “Không bao giờ đảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác”. Lời chỉ dạy của Hồ Chí Minh ngày nay không còn giá trị so với hàng vạn sự cưỡng chế đất đai làm cho hàng ngàn gia đình nông dân lầm than phẫn nộ đến độ phải dùng súng và bom tự chế chống lại nhà cầm quyền cộng sản đang liên minh với tư sản ngoại bang và tập đoàn đảng viên trở thành tư bản đỏ cầm quyền. Vụ cưỡng chế ở huyện Tiên Lãng và huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên là điển hình và còn biết bao nhiêu trường hợp bị che giấu, ém nhẹm trên toàn cõi đất nước từ bao nhiêu năm qua?

Hãy nghe những lời phát biểu của chính những trí thức và đảng viên cộng sản cao cấp trong nước như sau: Tiến Sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế, nguyên cố vấn cho Bộ Kế Hoạch Đầu Tư nhận xét: “Theo tôi, dự án Ecopark có ích đến mức độ nào thì hiện nay tôi không có sự đánh giá, tuy nhiên trong việc cưỡng chế dùng sức mạnh như vậy thì bất kỳ một lợi ích kinh tế nào cũng sẽ bị làm lu mờ. Với sức mạnh hùng hậu, với súng nổ và quả nổ ném về phía dân nó sẽ để lại một di chứng rất sâu đậm trong lòng mọi người Việt Nam trong và ngoài nước”.

Ông Bùi Kiến Thành nói: “Nhân dân người ta đang làm ruộng nuôi cả gia đình, bây giờ đòi trả cho người ta mấy trăm nghìn đồng mỗi mét vuông. Người ta không đi thì đem cả nghìn công an, quân đội tới cưỡng chế thử hỏi có hợp lý hay không?”.

Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Minh Thuyết: “Nếu đền bù cho người dân chỉ một trăm nghìn đồng VN một mét vuông thì người ta cầm đống tiền ấy sống thế nào? Trong khi chỉ cần mấy sào ruộng có thể nuôi sống đến đời cháu đời chắt người ta vẫn sống được”.

Ecopark được quảng cáo nằm cạnh làng gốm Bát Tràng, cách hồ Hoàn Kiếm 13 cây số. Địa thế đắc lợi nầy là khu sang trọng như Vườn Tùng, Vườn Mai, Núi Trúc, Rừng Cọ… Bất động sản này biểu hiện cho những gì quý nhất làm tăng thêm sức hấp dẫn và giá trị. Giá một căn nhà khoảng 20 triệu đồng/mét vuông, nhà phố thì 45 triệu đồng/mét vuông. Điều đó chứng tỏ giá trị của khu đất Ecopark chiếm dụng để bán lại cho người mua với giá hàng chục lần cao hơn trong khi Ecopark chỉ trả cho nông dân “Một trăm bảy mươi ngàn đồng!”.

Sự bóc lột nầy được thực hiện qua một trung gian chứ bản thân công ty Việt Hưng không có khả năng để làm chuyện đó. Người trung gian đầy quyền lực ấy là Ủy Ban Nhân Dân huyện Văn Giang và đồng bọn trong hệ thống ăn chia của đảng cộng sản Hà Nội.

Theo bà Lê Hiền Đức, một khuôn mặt nổi tiếng chống tham nhũng cho biết: Bà đã sống hai ngày đêm sát cánh với bà con, họ là những con cừu ngơ ngác trước bầy sói vũ trang tận răng. Họ nháo nhác dựa vào nhau nhìn cảnh sát cơ động xiết vòng vây, tấn công bằng trái nổ và lựu đạn cay.

Luật gia Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam thành phố Sài Gòn phát biểu: Vấn đề Văn Giang nghiêm trọng là ở chỗ một dự án kinh tế lớn theo nguyên tắc phải để cho người dân trực tiếp thương lượng với chủ đầu tư. Thuận mua thuận bán. Cớ gì nhà nước phải đứng ra làm trung gian rồi ép dân chấp nhận bồi thường với giá rẻ mạt?

Luật sư Trần Đình Triển hỏi: Nhà nước thu hồi đất và cưỡng chế giùm cho ai? Thu hồi vì lợi ích quốc gia hay lợi ích của cơ quan kinh doanh? Như vậy nhà nước đi làm thuê cho doanh nghiệp sao? Bây giờ những gia đình dân phải ly tán nơi khác, họ làm gì? Họ sống như thế nào? Không ai biết! Ông Triển còn thắc mắc và chê trách thêm: Nếu đảng viên bị cưỡng chế mà không chấp hành thì bị khai trừ, nếu người dân cần xác minh lý lịch để kết nạp vào đảng thì không được xác minh, nếu học sinh làm hồ sơ thi đại học mà gia đình không ký nhận bồi thường thì không có hồ sơ thi, nếu là công nhân viên nhà nước thì bị đuổi việc.

Tiên Lãng chưa được giải quyết thỏa đáng thì lại xẩy ra vụ cưỡng chế Văn Giang, rồi đây cộng sản Hà Nội sẽ còn tiếp tục làm cho bao nhiêu gia đình sống lang thang màn trời chiếu đất nữa? Mãi cho đến khi nào toàn dân, toàn quân kết hợp đập tan chế độ như sự tiên đoán của Luật Sư Lê Công Định: “Đất đai sẽ là tử huyệt của đảng cộng sản và chế độ”.

Để kết luận xin mượn lời của ông Lê Hiếu Đằng, một người nổi tiếng trong thời kỳ sinh viên học sinh tranh đấu trước năm 1975. Khi được hỏi cảm tưởng của ông về vấn đề nông dân bị đàn áp liên tục như vậy, so với chế độ cũ thì ông có so sánh gì? Ông Đằng trả lời:

“Một số nhân vật trong chính quyền đã gắn với lợi ích nhóm, lợi ích các tập đoàn mà không đặt lợi ích của người dân lên trên, bất kể những điều không hợp lý trong việc giải tỏa đền bù. Khi xẩy ra lại đi đến hành động hết sức dã man, hết sức phi chính trị, xua cả ngàn quân đàn áp người dân tay không. Tôi thấy còn tệ hơn thời kỳ mà chúng tôi đấu tranh ở Saigon nữa. Nếu các vị trong bộ chính trị muốn ổn định bằng cách bắt bớ, giam cầm, dẹp bỏ, thì đừng hòng. Nhân dân Việt Nam với truyền thống của mình không thể khuất phục trước các việc đó, và chúng tôi những người trước kia đã từng đấu tranh trong chế độ Saigon, chúng tôi dứt khoát khẳng định không thể khuất phục”.

Mong thay lương tri của những người công dân yêu nước, đã lầm tin tưởng một chế độ dã man, một bọn người gian xảo, vô nhân đạo, một lũ bán nước buôn dân, hãy đứng ra lãnh đạo toàn dân đập tan gông cùm, bẻ gẫy xiềng xích cứu dân cứu nước. – (VLT) 

Làm Sao Giết Nhà Đấu Tranh

 

Vi Anh
Về vụ nhà đấu tranh Trần quang Thành trốn thóat nơi bị Trung Cộng quản chế và vào tòa đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh xin tỵ nạn chánh trị, câu kết luận của bài trước “Một Trắc Nghiệm Nhân Quyền Với TT Obama” là “Chờ xem kết quả bài trắc nghiệm về nhân quyền của  TT Obama trong thời gian tới”.  Không dè  đến quá mau kết quả phũ phàng do những chính khách và ngọai giao cực kỳ thực dụng Mỹ của chánh quyền Obama dành cho Ô. Trần quang Thành mà báo chí Tây Âu gọi là “luật sư chân đất” và người Trung Hoa coi như “anh hùng dân tộc” trên công luận ngòai luồng của Đảng Nhà Nước TC. 

Thực vậy, không bao lâu sau — xin phép dùng nguồn tin của báo Pháp cho được vô tư hơn trong nội vụ — heo thông tin, nghị luận của một tờ báo lớn có uy tin của Pháp là nhựt báo Le Monde cho biết “Người Mỹ và Trung Quốc thỏa thuận về số phận của Trần quang Thành”.

Sau khi Ngọai Trưởng Mỹ Hillary Clinton đến Bắc Kinh, ngày thứ Tư, 2 tháng Năm, vài giờ sau một viên chức hữu trách của Mỹ tuyên bố Trung Quốc bảo đảm “an tòan” cho Trần quang Thành, ông sẽ ở lại ở nước nhà của Ông và không xin tỵ nạn chánh trị trong tòa đại sứ Mỹ nơi mà ông đã vào trốn và đã rời khỏi. 

Nhưng Ô. Trần quang Thành vào chiếu thứ Tư tuyên bố với thông tấn xã của Pháp là AFP, Ông rời khỏi tòa đại sứ Mỹ dưới sự bó buộc và nỗi lo nhiều chuyện xảy ra cho gia đình Ông. 

Phối kiềm với tin của thông tấn xã AP của Mỹ, chỉ một ngày sau, ông Trần Quang Thành nói với hãng tin AP rằng, ông muốn rời khỏi Trung Quốc cùng với gia đình, vì ông lo sợ cho mạng sống của họ. Ông cho biết các giới chức Hoa Kỳ đã nói với ông, là nhà chức trách Trung Quốc sẽ đánh vợ ông tới chết nếu ông không rời khỏi tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh. Nhưng phát ngôn viên ngọai giao Mỹ ở Washington đính chính nói các giới chức Mỹ không bao giờ nói với ông Trần về bất cứ đe dọa nào đối với vợ và con ông, nhưng Trung Quốc đã nói với họ, là gia đình ông sẽ bị đưa về tỉnh Sơn Đông nếu ông Trần ở lại tòa đại sứ Hoa Kỳ. Các giới chức Mỹ cũng đã xác nhận  trên Đài VOA, rằng Ô. Thành muốn rời khỏi Trung Quốc cùng với gia đình, một ngày sau khi rời khỏi Tòa đại sứ Hoa Kỳ, Ông đang nằm bịnh viện dưới sự giám sát của TC.

Còn thông tấn xã của TQ thì loan tải nhà ly khai rời khỏi tòa đại sứ Mỹ với sự “tự nguyện”. Ông được khám bịnh ở bịnh viện Chaoyang, trung tâm Bắc Kinh, cũng là vùng tòa đại sứ Mỹ tọa lạc. Theo trang web nhiều người đọc thì người ta cũng thấy tại nơi  đây khi Ô. Thành vào bịnh viện, có mặt Đại sứ Mỹ Gary Locke, một người Mỹ gốc Hoa và rất đông những nhà báo. 

Còn ngành ngọai giao của TQ thì  tỏ vẻ rất bất bình và tố cáo Mỹ với lời lẽ cứng rắn: “Phải nhìn nhận rằng tòa đại sứ Mỹ tại TQ đã dùng những phương tiện bất thường đưa công dân TQ Trần quang Thành vào tòa đại sứ. TQ rất bất mãn”…” Cách hành động đó của Mỹ là can thiệp vào nội bộ của TQ, là điều không thể chấp nhận được đối với TQ”. TQ đòi Mỹ phải xin lỗi và mở cuộc điều tra.” Và một viên chức Mỹ có trách nhiệm tuyên bố với tư cách dấu tên, nói tự hậu một việc như vậy không còn tái diễn nữa.”

Còn theo tin từ Washingon Mỹ, việc Ông Thành rời tòa đại sứ Mỹ, không xin tỵ nạn chánh trị là kết quả một cuộc thương lượng với nhà cầm quyền TQ. Nhà cầm quyền TC hứa với Mỹ ngòai việc để cho Ông và vợ Ông tự do học luật, còn hứa bảo đảm cho Ông một chỗ ở an tòan. Ông Thành  điện thọai cám ơn Ngọai Trưởng Mỹ, “Tôi muốn có thể hôn Bà”.

Thế là Mỹ và TC đã giải quyết và an bài số phận của người Ls mù lòa này rồi. 

Nhưng chưa chi kết quả cuộc dàn xếp Mỹ và TC, lời hứa của TC đã vi phạm một cách trắng trợn. Công an canh gác Ô. Thành ngay tại bịnh viện. Bè bạn Ông, vợ con Ông rất lo sợ. Chỉ một ngày sau Ông muốn đi tỵ nạn chánh trị ở Mỹ. Làng dân báo, công luận của dân Trung Hoa trên web rất bất bình thái dộ và hành động của Mỹ và lo cho Ô. Thành. Chính  phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Victoria Nuland  hôm thứ Năm nói các giới chức Mỹ  đang thảo luận các lựa chọn với ông Trần, hiện đang nằm bệnh viện tại Bắc Kinh dưới sự giám sát của Trung Quốc.

Giải pháp của Mỹ và TC để đưa Ông Thành ra khỏi Tòa Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh là giết sinh mạng chánh trị của người “luật sư chân đất”, một người mù dũng cảm, kiên trì đấu tranh chống lại chính sách một con mà hậu quả là cưỡng bức phá thai của Đảng Nhà Nước TC nữa – thành một nhà đấu tranh.

Nó hạ cấp một nhà đấu tranh danh tiếng, có uy tín thành một sinh viên vô danh mắt mù đi học luật với vợ ở một đại học nào đó của nước TQ với gần 1 tỷ 400 triệu người sống dưới chế độ CS độc tài, đảng trị, tòan diện.Nó tạo điểu kiện để TC chỉ định cư trú Ô. Thành với lới hứa cho Ô. Thành một  chỗ ở “an tòan”. Cũng như Việt Cộng hứa với quân cán chính VNCH cho đi “học tập cải tạo tập trung” là để bảo vệ an tòan tránh nhân dân đòi nợ máu, mà thực tế là đi tù lao động khổ sai, biệt xứ đúng theo định nghĩa của luập hình trên thế giới.

Trớ trêu thay nhà đấu tranh nhân quyền, nhà ly khai đấu tranh cương quyết, vào tù ra khám nhiều lần cho tự do, dân chủ, nhân quyền  là giá trị lịch sử mà chính Mỹ đã chủ trương kêu gọi và hứa hẹn dân tộc các nước, lại bị giết  sinh mạng chánh trị bới chính những chính khách thực dụng của chánh quyền TT Obama. 

Chính Ngọai Trưởng Clinton đã từng kêu gọi TC trả tự do cho Ô. Thành, bây giờ vì cuộc họp đối thọai về kinh tế và chiến lược với TC, mà chỉ vài giờ sau các nhà ngọai giao phù thủy đã buộc Ông Thành ra khỏi khuông viên tòa đại sứ, trên nguyên tắc là lãnh thổ của Mỹ mà quốc ca Mỹ gọi là trái tim của những người tự do!

Tuồng kịch chánh trị bá đạo và cực kỳ thực dụng này của chánh khách Mỹ thực hiện với những cán bộ đảng viên CS ở TQ làm trong phòng cửa đóng kín. Thật là một trò cười ra nước mắt cho những nhà đấu tranh tin vào các chính khách  và nhà ngọai giao Mỹ như TT Obama, NT Clinton. Họ giải quyết số phận nhà đấu tranh Trần quang Thành cũng như dân chúng và dân tộc bị áp bức, trên đầu trên cổ người dân.  Họ dọn sạch, họ tẩy trùng bầu không khí, tạo dư luận thuận lợi cho cuộc họp thường niên đối thọai về kinh tế và chiến lược giữa hai thành phần chấp chánh ở Washington và Bắc Kinh. 

Nhưng không ai tin việc làm của những chánh khách thực dụng Mỹ được TC đáp ứng thuận lợi. Bản chất của TC mềm thì nắn, rắn thì buông. Sau khi Mỹ thực tế là “trao trả” Ông Thành cho chế độ, CS Bắc Kinh đã có những lời lẽ hết sức chống Mỹ như TQ rất bất mãn, Mỹ can thiệp vào nội bộ của TQ và đòi Mỹ phải xin lỗi và mở cuộc điều tra. 

Có nhiều dấu chỉ  cho thấy việc những chính khách và nhà ngọai giao Mỹ trong chánh quyền TT Obama vo tròn bóp méo vụ Ô. Thành rời khỏi tòa đại sứ Mỹ, ban đầu  có vẻ  là một thành công ngoại giao của chánh quyền Obama, Ngọai Trưởng Clinton. Nhưng không bao lâu sau đó bị phản tác dụng nặng nề. Thái dộ và hành động quá mềm yếu  của họ với TC, việc thiếu trách nhiệm với lời hứa ủng hộ tự do, dân chủ, nhân quyền ấy;  TT Obama có thể trả một giá rất đắc. Nó ảnh hưởng bất lợi cho việc tái tranh cử của TT Obama, vì bị coi như thất bại của TT Obama đối với TC, quá mềm yếu với TC, như  nhiều lần thất bại trong việc yêu cầu TC giảm giá đồng nhân dân tệ, để hàng hóa TC tràn ngập thị trường Mỹ, làm mất công ăn việc làm của người dân Mỹ, và mang nợ TC như Chúa Chổm./.


Hồi Tưởng Ngày Đức Thầy Thọ Nạn

Nguyễn Quý Đại, 

Miền Trung không ảnh hưởng Phật giáo Hòa Hảo. Đạo Hòa Hảo phát triển ở 15 tỉnh miền Tây: Châu Ðốc, An Giang, Sa Ðéc, Kiến Phong, Vĩnh Long, Phong Dinh, Chương Thiện, Kiên Giang, Ba Xuyên, Bạc Liêu, An Xuyên, Ðịnh Tường, Long An, Kiến Hòa, Kiến Tường, và Sài Gòn-Gia Ðịnh. Các tỉnh như Châu Ðốc, An Giang, Kiến Phong, Sa Ðéc, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo lên đến 90% dân số; ở các tỉnh khác tỷ số này thay đổi từ 10 đến 60%. Miền Tây đất đai phì nhiêu, ruộng đồng rộng mênh mông như Đồng Tháp Mười „cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi”.

Mùa nắng đất khô cỏ cháy
Mùa mưa nước ngập lan tràn
Cò trắng nghìn năm bay chẳng dứt
Chân trời bốn mặt rộng thênh thang…
Nguyễn Bính 1949

Đồng Tháp Mười là vùng đất của Đồng bằng sông Cửu Long diện tích 697.000 hecta, trải rộng trên ba tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp. Nhờ sông Cửu Long mang phù sa về bồi đắp ruộng vườn phì nhiêu „làm chơi ăn thiệt“ nên đời sống người dân sung túc, tính tình cỡi mở hồn nhiên, chất phát thật thà, giọng nói cũng ngọt ngào dễ mến (khác với giọng Quảng Nam khô khan, rắn rỏi,). Họ xây nhà theo mô hình „trước là nhà, sau là vườn cây ăn trái“. Trong khi đất miền Trung khô cằn sỏi đá, chiến tranh tàn phá cao độ hơn miền Nam. Giữa tháng 3 năm 1975 tôi đi công tác có dịp tham dự đại lễ ngày Đức Thầy thọ nạn, do tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức tại Đốc Vàng Hạ xã Tân Phú nơi Đức Thầy bị nạn 25/2 âm lịch 1946, thuộc quận Thanh Bình, tỉnh Kiến Phong. Nơi nầy còn có địa danh Đốc Vàng Thượng với dinh ông Đốc Vàng ở ấp Nam xã Tân Thạnh, lúc sanh tiền ông lập được nhiều công lao chống giặc ngoại xâm, sau khi qua đời vua Minh Mạng truy tặng tước vị và được người dân xã Tân Thạnh lập đền thờ.

chuaTayAn
Chùa Tây An

Hồi tưởng lại chuyến đi Cao Lãnh Kiến Phong, tỉnh Kiến Phong nằm phiá bắc Tiền Giang các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên và Sa Đéc. Kiến Phong bắc giáp với Campuchia, đông và đông bắc giáp hai tỉnh Định Tường và Kiến Tường, nam giáp tỉnh Vĩnh Long tây và tây nam giáp hai tỉnh Châu Đốc và An Giang, xe từ Sa Đéc phải đi qua chuyến phà từ Tân Mỹ (thuộc quận Lấp Vò Sa Đéc nơi sinh trưởng của Phật Thầy Tây An). Quận Thanh Bình nằm trên quốc lộ 30, cách Cao Lãnh khoảng 25km về hướng tây bắc. Địa giới của huyện Thanh Bình ở phía bắc giáp huyện Tam Nông, phía nam và phiá tây giáp sông Tiền Giang, phía đông giáp huyện Cao Lãnh.

Trên đồng ruộng máy cày tạo nên những luống cày thẳng tắp, đất khô phơi màu bùn xam xám, những con kinh nước lên xuống trong ngày, nước xuống để trơ những cành cây không lá rong rêu, người ta gọi là chà, là nơi cá tôm sinh sống, lúc nước xuống cạn họ dỡ chà dài khoảng 10 m, bùn non nước sền sệt người ta tìm bắt vô số cá, tôm đủ loại cả giạ, họ bán hoặc phơi khô làm mắm tích trữ cho mùa nước lên. Những con rắn bông súng, rắn nước cũng bị bắt, cá lóc (cá tràu) to bằng bắp chuối nướng trui không cần sơ chế, nghĩa là không đánh vảy, không cạo nhớt, không mổ bụng, không tẩm ướp gia vị. Cá lóc vừa bắt dưới sông lên, rửa sạch, được xuyên bằng một que dài từ miệng đến đuôi, sau vùi cá vào đống rơm khô rồi châm lửa đốt hoặc cắm que xuống đất lấy rơm phủ lên và đốt lửa cho đến khi tro tàn. Khi cá chín, cạo bỏ lớp vẩy đã cháy xém để lộ ra thịt cá trắng, thơm ngon là món khoái khẩu của dân nhậu, chấm với nước mắm me dốt, khề khà với rượu Đế, dân miền Nam miệt vườn quanh năm thưởng thức thơ rượu, hát hò… Chúng tôi đến chợ Thanh Bình buổi trưa nước ròng, trên kinh vắng bóng ghe đò, hai bên bờ kinh từng đoàn xe honda chạy về hướng Đốc Vàng Hạ. Thiếu tá Lộc quận trưởng cho biết tình hình an ninh ở đây khả quan vì giáo dân là những người rất chống cộng. Đại lễ Đức Thầy thọ nạn tưởng nhớ ngày CS sát hại Giáo chủ, ngày lễ sẽ có nhiều Chính khách, Dân biểu về tham dự…

Nắng chiều trải rộng trên kinh tràn ngập những cánh hoa lộc bình (Eichhornia crassipies) màu tím trang điểm thêm nét đẹp của thiên nhiên mây nước, ghe đò chạy vô ra náo nhiệt lo cho ngày lễ Hội, chúng tôi quá giang ghe vào Đốc Vàng Hạ, hai bên kinh nhà cửa khang trang lợp ngói đỏ, xây cao hơn mặt đất 1 vài mét, sàn nhà bằng gỗ, dưới những gốc cây cau có lu đựng nước mưa, nhà giàu xây những bể chứa nước mưa to lớn, phương tiện chính duy chuyển ở đây là ghe xuồng nên nhà nào cũng có ghe gắn máy đuôi tôm. Gần đến điạ điểm tổ chức là khoảng đồng trống có đồn Nghiã quân, lô cốt bằng đất chung quanh rào sơ sài hai lớp mỏng kẽm gai concertina, là đồn nhưng gọi trạm thì đúng hơn, quân số một tiểu đội chưa đủ 12 người. Anh trung đội trưởng vui tính luôn phì phà điếu thuốc trên môi, anh rất lạc quan vì tình hình nhiều năm ở đây bình an, CS chỉ hoạt động mạnh ở các vùng Kiến Tường Mộc Hoá, Sầm Giang, Cai Lậy…Trung đội anh phụ trách hai đồn nhỏ trong và ngoài giữ an ninh chống kinh tài VC về thâu thuế. Sân khấu đài tưởng niệm dựng trên vùng đất rộng bao la bằng phẳng mượt mà cỏ xanh, chung quanh là nhà dân sầm uất. Người về càng đông hàng quán ì xèo bán thức ăn, nhạc vàng, cải lương vọng cổ vang trong gió chiều từ những dàn nhạc âm thanh lớn, Stero Radio cassette của các quán nhậu đặc sản của Đồng Tháp Mười về đêm đèn Manchon sáng chói. Chúng tôi được chính quyền địa phương giới thiệu về địa lý và di tích lịch sử của Đốc Vàng, tôi hân hạnh gặp cụ Phan Văn Mười (Mười Tỷ) cận vệ Đức Thầy là người có duyên may thoát chết trong vụ án Đốc Vàng. Sau biến cố Đốc Vàng, cụ tiếp tục con đường hành đạo theo giáo lý của Đức Thầy kể lại biến cố lịch sử. „Đức Thầy ngồi bàn giữa, nói chuyện với Bửu Vinh, còn 4 cận vệ cầm súng đứng 2 bên gần cửa. 10 phút sau có 8 người từ bên ngoài đi vào, chia làm 4 cặp, tràn tới đâm 3 cận vệ chết tại chỗ, ông nhảy xuống bờ kinh thoát nạn, ngôi nhà ngói bị tắc đèn chìm vào bóng đêm âm u, Đức Thầy vắng mặt từ đó…„ Tín đồ Hòa Hảo tin Đức thầy còn sống ngài sẽ trở lại trong vinh quan, nhưng theo các tài liệu của Việt Minh thì Đức thầy bị sát hại thủ tiêu mất xác. (do Đào Công Tâm và Bửu Vinh thi hành). Việt Minh chủ trương tiêu diệt tín đồ PGHH cố Thi Sĩ Việt Châu Nguyễn Xuân Thiếp (anh em chú bác với nhà văn Nguyễn Hiến Lê), ngày 08.9.1945 thừa lệnh Đức Thầy thi sĩ Việt Châu đi Cần Thơ hòa giải việc tín đồ PGHH bị bắt giữ sau cuộc biểu tình, bị VMCS tráo trở bắt tử hình tại Cần Thơ ngày 07.10.1945 (02.9 Ất Dậu) chung với hai ông Trần Ngọc Hoành và Huỳnh Thạnh Mậu em phần xác Đức Thầy. Các lực lượng vũ trang của Dân Xã đã đồng loạt tấn công vào lực lượng vũ trang và các cơ sở của Việt Minh tại các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ với danh nghĩa để trả thù cho Giáo chủ.

a/ Nhóm Trần Văn Soái, tức Năm Lửa, mang danh nghĩa Quân đội Hòa Hảo, hoạt động tại Cần Thơ, Vĩnh Long, đặt bản doanh tại Cái Vồn.

b/ Nhóm Lâm Thành Nguyên, tức Hai Ngoán, hoạt động tại 2 tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc, bản doanh đặt tại Cái Dầu.

c/ Nhóm Lê Quang Vinh, tức Ba Cụt, mang danh nghĩa Nghĩa quân Cách mạng, kiểm soát vùng rạch Giá, Long Xuyên, đóng bản doanh tại Thốt Nốt.

d/ Nhóm Nguyễn Giác Ngộ tức Ba Gà Mổ, mang danh nghĩa Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực, đóng tại một vài khu vực trong tỉnh Long Xuyên, đặt bản doanh tại Chợ Mới.

Đến Đốc Vàng tình cờ tôi gặp ông Tưởng khi nghe ông nói giọng Quảng Nam, ông định cư ở Mộc Hóa nhưng con gái lấy chồng về Đốc Vàng, ông đến thăm cháu ngoại và dự đại lễ. Năm 1957 thời TT Ngô Đình Diệm ông đi theo chương trình di dân, đến các khu trù mật, dinh điền được chính phủ trợ cấp để khai phá lập nghiệp. Chú An con rể ông là lính sư đoàn 9 bị thương được giải ngũ nhưng còn khỏe, nhà có máy cày đầy đủ tiện nghi, phản bằng gỗ mít dày bóng loáng, bộ ghế salon gỗ trên bàn kính có lộng hình con cháu… Con gái ông nói giọng Nam, đời sống gia đình thuộc hạn trung lưu, con rể lịch thiệp hiếu khách vồn vã mời chúng tôi ở lại ăn tối và ngủ đêm có mền mùng không sợ muỗi cắn. Buổi tiệc làm nhanh gồm các món: lươn um với bắp chuối, cá nướng rơm, canh chua cá lóc, cá trê kho tộ, tôm chua, bia 33 nước đá lạnh…Ông Tưởng nhắc lại những ngày ngoài quê nghèo, làm mướn cuối ngày được chủ trả mấy lon gạo (lon sữa bò dùng để đo luờng), cơm độn khoai sắn quanh năm mưa nắng làm gì có thịt cá hả hê như ngày nay, ông luôn nhớ kỷ niệm tình hàng xóm nơi chôn nhau cắt rún Quãng Nam. Con cháu ông sinh trưởng miền Nam đời sống sung túc không khổ như đời cha, phải đổ mồ hôi để đổi lấy miếng cơm. Đồng hương gặp nhau ở xứ người là một niềm vui „ôn cố tri tân“ dù thế hệ tuổi tác tôi với ông cách xa nhau, nhưng bổng dưng có một sự thắm thiết chân tình. Tôi ở lại với gia đình con cháu ông như gia đình mình, chuyện xưa được gợi lại như một kỷ niệm đẹp trôi theo giòng đời…càng về khuyua thanh vắng vòm trời cao có những ánh sao đêm, mọi người ngủ say, tôi giật mình lo sợ nghe tiếng súng, lựu đạn nổ ở hai đồn nghiã quân kéo dài khoảng 20 phút, chú An từng kinh nghiệm tác chiến cho biết tiếng súng AK và đạn B40 là của VC, nên bình tĩnh trong nhà không nên đốt đèn, chờ sáng để biết tình hình, thời gian chờ đợi, lo sợ trôi qua rất chậm. Trời vừa hừng sáng chú An ra bờ kinh nhìn về phiá đồn nghiã quân lô cốt không còn mái tôn, bộ đội VC đội mũ cối ở trong đồn, những nghiã quân sống sót bỏ đồn nương theo bờ kinh chạy thoát hiểm, hai nghiã quân hy sinh xác còn trong lô cốt đất, cả hai đồn nghiã quân bị chiếm. Đại đội chủ lực quân VC về đánh phá ngày đại lễ. Mặt trời lên cao ghe đò chờ nước lên để di tản, chúng tôi phải băn ngang cánh đồng vì hai đầu nơi tổ chức đều bị VC chiếm và đóng chốt. Đoàn người như đàn cò trắng trên cánh đồng khô tìm lối thoát thân, VC bắn theo, tiếng đạn kêu vèo vèo đầu đạn cắm xuống những luống cày khô bụi bay ngay trước mặt, may mắn không ai bị thương. Đây là lần đầu tiên và cũng là cuối cùng tôi chạy toát mồ hôi dưới làn đạn giết người của VC, ông Tưởng chửi luôn miệng „Tiên sư giặc Hồ không để cho dân chúng sống bình an…” Ngày đại lễ cuối cùng của Phật Giáo Hòa Hảo miền Nam không thể thực hiện. Sau 1975 Phật Giáo Hòa Hảo không được phép nhắc tới ngày Đức Thầy thọ nạn vì đó là điều bị nhà cầm quyền cộng sản cấm kỵ Phật Giáo Hòa Hảo trải qua những biến đổi của lịch sử, từ thời kháng chiến chống Pháp, chống Việt Minh và thời Đệ Nhất Cộng Hòa, cũng lắm thăng trầm và chua xót. Trước năm 1975 các Tôn giáo tại miền Nam đều có quyền tự do hoạt động, có các sở văn hóa, truyền giáo, từ thiện… Viện Đại Học Hòa Hảo thành lập năm 1970, tại Long Xuyên chương trình học nhằm đào tạo cho giới trẻ sinh trưởng tại miền Nam có cơ hội tiến thân không cần phải đi học xa ở Sài Gòn và cạnh tranh với các Viện Đại học Vạn Hạnh (Phật giáo 1964), Viện Đại học Chính Trị Kinh Doanh Đà lạt (Công giao 1957) Viện Đại học Cao Đài Tây Ninh (1971)…

Đại học Hòa Hảo gồm có các phân khoa:

- Thương mại Ngân hàng

- Khoa học Quản trị

- Giao dịch và Ban giao Quốc tế

- Nông nghiệp

- Văn khoa và Sư phạm

- Trung tâm sinh ngữ

- Đông y.

Tóm lược lịch sử Đạo Hòa Hảo

huynhphuso 

Ðức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ

Thánh Ðịa Phật Giáo Hòa Hảo tại làng Hòa Hảo tức là sinh quán của Ðức Huỳnh Giáo Chủ, Đức Thầy sinh 15.01.1920 (25.11 Kỷ Mùi) tại làng Hoà Hảo, quận Tân Châu tỉnh Châu Đốc, (nay huyện Phú Tân, tỉnh An Giang). Ngài là người sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo, làng nầy có nếp sống thanh bình an lạc. Thuở nhỏ ông thông minh, học hết bằng sơ học yếu lược Pháp-Việt nhưng thường bị đau ốm nên đành bỏ dở việc học. Lên núi Sam còn có tên là Vĩnh Tế Sơn hay Ngọc Lãnh Sơn cao 284 m có chu vi 5.200m, là một núi nằm trong vùng Bảy Núi, trước thuộc xã Vĩnh Tế, nay là phường Núi Sam, Châu Đốc. Tu theo Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương được khai sáng năm 1849 bởi ông Đoàn Minh Huyên (1807-1856), quê ở Tòng Sơn, Cái Tàu Thượng, tổng An Thạnh Thượng, Lấp Vò Sa Đéc. Ông Đòan Minh Huyên đến tu tại chùa Tây An hay Tây An cổ tự được tín đồ tôn kính gọi là Phật Thầy Tây An.

Chùa Tây An tọa lạc trên nền cao, thoáng rộng, trong khuôn viên có diện tích 15.000m m2. Phía sau có núi Sam như bức bình phong nổi bật lên với màu xanh, mặt chính với ba ngôi cổ lầu nóc tròn hình củ hành, màu sắc sặc sỡ nhưng hài hòa. Nơi nầy ông Huỳnh Phú Sổ được trị lành bệnh và luyện chí tu hành. Năm 1937 Huỳnh Phú Sổ về làng, chữa bệnh cho dân, viết kinh, giảng sấm, được dân gian gọi là Phật Thầy. Từ đó đạo Phật Giáo Hòa Hảo được khai sáng tại làng Hòa Hảo. Tín đồ PGHH không buộc phải cạo đầu vào chùa, bỏ mọi việc ngoài thế gian, họ ở tại gia đình sống như mọi người công dân khác với nếp sống bình dị trong nông nghiệp, tu hành theo giáo lý Tứ Ân Hiếu Nghiã:

a/ Ân Tổ Quốc Cha Mẹ

b/ Ân Đất Nước

c/ Ân Tam Bảo ( Phật Pháp Tăng)

d/ Ân Đồng Bào Nhân Loại

Tín đồ PGHH là cư sĩ tu tại gia sửa thân tâm, đóng góp vào việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp trù phú miền Nam. Trên bàn thờ, không có tượng Phật, chuông mõ. Chỉ có tấm Trần bằng vải màu dà, tượng trưng cho sự hòa hợp nhân loại, và cho màu sắc nhà thiền. Ðó là bàn thờ Chư Phật. Dưới bàn thờ Phật là bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ thờ ông bà cha mẹ đã khuất. Trước nhà có bàn thờ lộ thiên (gọi là bàn Thông Thiên) để người tín đồ cảm thông với Trời Ðất, bốn phương trời, mười phương Phật. Họ chỉ dùng nước lạnh, bông hoa, và nhang để cúng Phật. Nước lạnh tiêu biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết, còn nhang dùng mùi hương thơm tẩy ô uế.

Mỗi ngày người tín đồ PGHH làm lễ cúng Phật, ít nhất hai lần, sáng và tối. Trong các ngày rằm, mồng một, ngày vía Chư Phật, họ đến chùa hay hội quán hành lễ, nghe kinh giảng, thuyết pháp. Lúc đãnh lễ họ không dùng mõ chuông, mà chỉ lâm râm tâm niệm. Khi nào bận việc thì đến giờ hành lễ họ quay mặt về hướng Tây mà cúng Phật, và khuyến khích nhau ngồi đâu, ở đâu cũng tụng niệm trong tâm. Ngoài ra trong các Xã, Ấp có những độc giảng đường trang bị máy phóng thanh, để mỗi ngày trong những giờ nhất định, có những giảng viên đến đọc kinh giảng hay thuyết pháp cho người chung quanh. Ðộc Giảng Ðường Phật Giáo Hòa Hảo là những ngôi chùa thâu hẹp để truyền đạo, không phải để cư trú nên nhỏ hơn chùa, bởi bản chất Phật Giáo Hòa Hảo là cư sĩ tại gia. Hệ thống sinh hoạt của Phật Giáo Hòa Hảo trước 1975 gồm có:

1/ Các Ban Trị Sự Tỉnh: An Giang, Sa Đéc, Kiến Phong, Kiên Giang, Vĩnh Long, Phong Dinh, Chương Thiện, An Xuyên, Ba Xuyên, Biên Hòa, Gia Định, Vĩnh Bình, Kiến Hòa, Kiến Tường, Lâm Đồng, Tuyên Đức, Ninh Thuận, Phú Yên, Bình Định và Long An Định Tường.

2/ Các Ban Trị Sự Thị Xã: Sài Gòn, Cần Thơ, Mỹ Tho, rạch Giá, Vũng Tàu, Đà Lạt.

3/ Các Ban Trị Sự trực thuộc Trung Ương: Thánh Điạ Hòa Hảo xã Thiện Từ, 82 Ban Trị Sự cấp quận, 476 Ban Trị Sự cấp xã, 3100 Ban Trị Sư cấp ấp

4/ Cơ Sở Tự Viện: 231 chuà và Tự viện; 468 Độc giảng đường; 452 Hội quán; 2876 Văn phòng.

5/ Nhân sự: 36500 Trị sự viên các cấp; 2679 Tu sĩ và nhân viên tại các tự viện; 10.000 nhân viên và khóa sinh ngành phổ thông Giáo Lý.…

Sinh hoạt chính trị tại miền Nam còn có chính đảng: Đảng Dân Chủ Xã Hội Việt Nam còn được gọi là Đảng Dân Xã hay Dân Xã Đảng Hòa Hảo là một đảng chính trị lớn hoạt động ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1946-1975 rất mạnh, có Dân biểu, Thượng nghị sĩ đại diện cho PGHH, Người miền Trung đến làm việc tại các tỉnh miền Tây “nhập gia tuỳ tục“ phải tế nhị trong vấn đề giao tế với đại diện tín đồ PGHH đàn ông lớn tuổi họ còn bới tóc.

Sau 30.4.1975 Dân Xã đảng và các đảng phái khác dưới thời VNCH bị cấm hoạt động. Một số thành viên của Dân Xã đảng sau năm 1975 tập hợp tái hoạt động tại hải ngoại đấu tranh, hổ trợ cho Phật Giáo Hòa Hảo trong nước bị nhà cầm quyền CS đàn áp, đánh đập bắt giam cấm hành đạo. Hàng năm ở hải ngoại tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo làm kỷ niệm ngày Đức Thầy thọ nạn. Nhìn lại 37 năm qua CSVN luôn đàn áp tôn giáo, không riêng gì PGHH bị nạn, cả nước biến thành nhà tù của chế độ CS vô thần. Trong chuyến viếng thăm Cuba Đức Giáo Hoàng nói: “Ngày nay đã rõ ràng là ý thức hệ mác xít tỏ ra không thích hợp với thực tại” và ngài kêu gọi “Cuba cần phải có tự do của lương tâm và tự do tôn giáo cho mọi người”. Các Quốc gia còn theo chủ nghiã Cộng sản trong đó có Việt Nam cần phải sớm từ bỏ chế độ CS để người dân được sống hoà bình, tự do dân chủ…


Gió Đã Đổi Chiều

 

Vi Anh
Một vài thời sự nhiều ý nghĩa. Thêm một đảng viên Việt Tân từ hải ngọai về Việt Nam tổ chức họat động cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN bị CS bắt. Đó là Ô. Nguyễn Quốc Quân và tên Mỹ là Richard Nguyen, vốn là một giáo sư tóan di tản sang Mỹ tỵ nạn CS, tiếp tục học đậu bằng Tiến sĩ Tóan và giảng dạy tại Đại Học Bang North Carolina, từng bí mật về nước họat động nhiều lẩn, kỳ này bị bắt tại phi trường Tân Sơn Nhứt, ngày 14-4-2012. 

Còn trong nước nhà VN, chưa đầy ba tháng sau vụ Tiên Lãng ở Hải Phòng người dân oan dùng súng và mìn tự chế chống lại công an, quân đội cưỡng chế, cưỡng chiếm đất đai của ông Đoàn Văn Vươn, thì ở tỉnh Hưng Yên vụ Văn Giang lại nổi lên. Hàng ngàn người dân đứng lên chống lại nhà cầm quyền cưỡng chế,cưỡng chiếm đất đai để làm Dự án Ecopark mà người đầu ngành tập đòan đầu tư là con gái của Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng. 

Phong trào Dân Oan ở VN sau 37 năm CS Hà nội thống trị Việt Nam, theo đánh giá của Đảng Nhà Nước CS  trong một hội nghị ngày 02/05 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ tọa, đã “gây bất ổn chính trị, liên kết đông người”, chiếm hơn 70% vụ khiếu kiện. Con số thực tế những oan khuất của Dân Oan phải chịu và nhà cầm quyến ém nhẹm, nhứt định cao hơn nhiều.

Dưới cái nhìn của nhà nước thống trị đang hốt hoảng, hành động đấu tranh bất bạo động của Tiến sĩ Quân từ Mỹ về là “khủng bố” và hành động phong trào Dân Oan là “gây bất ổn chính trị, liên kết đông người”. 

Nhưng dưới cái nhìn của người dân, đó là  tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền và đòi quyền sống, đòi công lý đã biến thành phong trào, chứng tỏ người dân đã hết sợ CS, mà CS đang sợ dân. Dân chúng đã qua giai đọan bất tuân hành dân sự, qua giai đọan khiếu kiện cá nhân, mà biến thành phong trào tập thể, từ đấu tranh ôn hòa manh nha tiến lên bạo lực. Tình hình dân chúng VN hiện nung nấu hơn tình hình  trước thời người dân Tunisia, Ai cập, và Lbiya vùng lên, nổi dậy chống đối và lật đổ độc tài.

Ngọn gió đã đổi chiều, từ hạ trào cách mạng đang trở thành cao trào cách mạng của người dân chống độc tài CS. Người dân Việt trong và ngoài nước và cán bộ đảng viên CS Hà Nội, 37 năm sau ai sợ ai?

Để trả lời câu hỏi này thiết nghĩ cần phân tích sơ lượt nỗi sợ và phản ứng thông thường của nó. Sợ là phản ứng tâm lý  tự nhiên của Con Người, cá nhân lẫn xã hội, trước một cú sốc lớn. Người bị động, tức người bị làm cho sợ, có  phản ứng ban đầu từ bất tỉnh đến ù té chạy, hay râm rấp nghe theo, như người bị kẻ cướp bất thần dí súng trấn lột. Điều đó đã thấy khi CS mới vào Saigon, nhiều người Saigon bỏ sở, buông súng, cởi quân phục, “chờ bàn giao chánh quyền” theo lịnh của Ô. Minh – một cái lịnh vi hiến và vi quân luật. Một số thì về nằm chết dí trong nhà, kẻ thì chạy ào vô Tòa Đại sứ Mỹ, xuống Hải Quân, Cảng Nhà Rồng để trốn chạy. Lại có kẻ nịnh bợ CS mang Băng Đỏ làm dân 30 tháng 4. Còn Bộ Đội CS Bắc Việt sợ, mời một ly nước không dám uống, cho một gói mì không dám ăn. Họ sợ bị thuốc, chớ không phải tử tế hay đầy đủ gì. Nhưng sau đó bình tĩnh lại họ thấy cái gì cũng muốn, cũng thèm, hoặc xin, hoặc mua như giựt, để gấp gấp đem về Miền Bắc xã hội chủ nghĩa quá thiếu thốn. Từ đó  Saigon có thành ngữ, “tự nhiên  như người Hà Lội”. 

Nhưng sau một thời gian bị cú sốc, bình tĩnh lại một chút, bản năng tự vệ và sinh tồn của Con Người trỗi dậy, tìm cách thắng nỗi sợ và phản ứng thích nghi hay chống đối. Phản ứng có thể từ lén nhìn sơ hở của đối phương, bày tỏ nỗi bất mãn bằng lời bóng gió, chống đối hay tẩy chay, xa lánh. Còn người chủ động, tức người gây ra nỗi sợ, cũng sợ, nhưng phải dấu nỗi sợ ấy để trấn áp đối phương. 

Phản ứng có thể như kẻ cướp có súng trong tay “bụp liền”  khi thấy một chút phản ứng nhỏ dù là vô tình của người bị trấn áp. Thời gian có lợi cho người bị động, bất lợi cho người chủ động gây ra nỗi sợ. Thế cho nên kẻ cướp chuyên nghiệp ít khi kéo dài vụ cướp, không cho người bị khống chế nói chuyện, làm mất đi sự căng thẳng thần kinh của đối phương có lợi cho kẻ cướp. Nếu kéo dài thời gian trấn áp con tin, sớm muộn gì cũng có phản ứng hóa giải hay chống đối. Nên những chuyên viên chống tội phạm thường khuyên người bị cướp trấn lột, cướp bảo làm gì cứ làm nấy, cố kéo dài thời gian, quan sát cho kỹ để sau này giúp nhà cầm quyền dễ nhận dạng và bắt hơn là chống đối cướp giết không có lợi gì. 

Từ ngày CS Hà Nội chiếm được Miền Nam đến nay đã 37 năm, thử xét coi nỗi sợ của người dân bị động và của CS chủ động gây nỗi sợ, bên nào còn sợ nhiều hơn. Phản ứng của đồng bào Miền Bắc. Từ ngày CS chiếm được Miền Bắc, người dân kẹt không di cư được vào Nam năm 1954, sau một thời gian sợ ban đầu, đã bắt đầu phản ứng tự vệ và sinh tồn. “Phết phẩy” với cán bộ đảng viên, luồn lách, uốn mình qua ngỏ hẹp để sống. Nhưng đàng sau lưng CS thì nói hành nói tỏi, chưởi đon chưởi ren để tỏ bất mãn. Vì vậy ca dao trào phúng, chuyện tiếu lâm ở Miền Bắc nói xấu CS rất phong phú. Và sau cùng đến giai đoạn ly khai Đảng, chống báng Đảng như Trần Độ, Dương Thu Hương và những nhà trí thức đấu tranh. 

Còn phản ứng đồng bào Miền Nam nói chung từ Bến Hải trở vào, người dân ban đầu sợ chạy tán loạn sau đó bình tĩnh thích ứng, “đi với ma mặc áo giấy” bằng nhậu nhẹt, lì xì” đến độ đảng viên trước thuốc ba số 555 thì “nằm mà ký”, kế đến “ thủ tục đầu tiên” “sổ vàng”, và nhiều hình thức mua chuộc, trao đổi không tên khá đến độ tham nhũng trở thành đại nạn cho CS. Và  không bao lâu đã “hủ hóa” hầu hết VC, biến VC thành cường hào ác bá Đỏ ở nông thôn, và tư bản Đỏ ở thành thị thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.  

Sẽ thiếu nếu không nói đến người Việt Hải Ngoại. Từ chỗ VC liệt số người này với tội đồ  “phản quốc, phản động, phản cách mạng” nhưng sau mười năm với “vai mang túi bạc kè kè, nói phải nói quấy VC nghe rầng rầng”. Nghe đến nỗi VC uốn lưỡi gọi “Việt Kiều yêu nước, khúc ruột ngàn dặm của quê hương” và mặc thị cho Việt Kiều về trùng tu Nghĩa Trang Biên Hòa là biểu tượng của lực lượng “kẻ thù số 1” của CS Hà Nội;  VC đánh chữ làm thinh vì sợ mất Đô la.

Trong khi CS Hà Nội giấu nỗi sợ, nhưng nỗi sợ đâu có rời. Phản ứng đã chỉ rõ. Phát ngôn với quốc tế thì dao to búa lớn không cần thiết, với người dân thì hành động bạo lực quá đáng, quá đà. Rục rịch bất đồng ý với CS là buộc tội gián điệp, khủng bố, phá họai nhà nước, lật đổ chánh quyền. Đồng bào thiểu số Tây Nguyên chỉ biểu tình, VC “điều” hàng sư đoàn có thiết giáp trực thăng yểm trợ, quân số và cơ giới đông hơn người biểu tình. Hao tốn công quỹ vô ích; quấy động dư luận quốc tế không cần thiết, mà tạo điều kiện cho việc chống CS cháy phừng lên. Mỹ đặt CS Hà Nội vào 1 trong 8 nước cần quan tâm đặc biệt trong hai năm phần lớn là vì giọt nước tràn đàn áp đó. 

Nhưng nỗi sợ không rời nghe thấy  rõ nhứt khi một Ông Tướng VC được “điều” qua làm Giám Đốc VN Airlines, Nguyễn xuân Hiển, bị phóng viên Đài BBC vô tình chạm nọc “sợ” với câu hỏi Ô. Tướng có “sợ” sự cạnh tranh của United Airlines Mỹ không. Ông nổi điên lên, hỏi “tại sao phải dùng chữ sợ nhỉ” và xài xể phóng viên BBC thậm tệ, nào là kém văn hóa, nào là dốt tiếng Việt. 

Còn Bộ Chánh Trị CS Hà Nội sợ vụ án Tổng Cục Mật Vụ TC2 nổ tung ra, và nổ chụp xuống Đảng nên sợ cứng người, liệt thần kinh không dám rỉ hơi dù đó là việc đúng người, đúng chỗ, và đúng việc của Bộ Chánh trị CS Hà Nội. Còn Chánh Phủ trong vấn đề Trung Cộng và Mỹ, miệng thì nói rố ráo nguyên tắc bất can thiệp, nhưng trong bụng sợ rung en phát rét, hành động phi lý bán đất dâng biển, chạy chọt tránh bị Mỹ trừng phạt vì lý do đàn áp tôn giáo một cách hết sức thiếu tự tin.

37 năm, nỗi sợ đã đổi bên, từ người dân sợ sang nhà cầm quyền CS sợ. Theo qui trình tâm lý cá nhân và xã hội này, những năm tới sẽ là những năm sẽ xảy ra  nhiều diễn biến và biểu hiên, nhiều  phản ứng của nỗi sợ không rời CS Hà Nội. 

Sợ đã đổi bên từ dân sang nhà nước. Gió đã dổi chiều tữ hạ trào cách mạng sang cao trào cách mạng nơi dân chúng./.


Trắc Nghiệm Nhân Quyền Với Tổng Thống Obama


Vi Anh
Vụ Luật Sư Trần Quang Thành đào thóat vào tòa đại sứ Mỹ tỵ nạn chánh trị là một trắc nghiệm nhân quyền đối với người dân Trung Hoa đấu tranh cho nhân quyền Trung hoa và đối với TT Obama nói riêng và chánh quyền Mỹ nói chung. 

Một, Đảng Nhà Nước CS không thể đè bẹp nhân dân. Trước nhứt gia đình, bè bạn, và chiến hữu vốn là những người dân giúp Ls Thành đào thóat, trong bước đầu là bước vạn sự khởi đầu nan. Thông tín viên Stéphane Lagarde của RFI tại Bắc Kinh tường trình. Một nhân chứng tại chỗ cho biết  “Trần Quang Thành đã bỏ chạy khỏi làng Đông Sư Cổ, ông liên lạc với tôi và tôi đã mang xe hơi đến đưa ông tới một nơi an toàn”. Các bloggers  cho biết nhà ly khai Hồ Giai cùng người vợ là bà Tằng Kim Yến, hai bạn thân của luật sư Thành, hay bà Hà Bồi Dong, người đã lái xe chở ông Trần Quang Thành đến nơi “an toàn.”

Đảng Nhà Nước TC mở bộ máy kiểm duyệt hết công suất nhưng không bưng bít tin tức được vì những công dân mạng ở Trung Hoa được tiến bộ khoa học, kỹ thuật tin học của thời đại giúp phá vòng vây kềm tỏa của TC. TC khóa một số chữ chánh chìa khóa tìm tin này như chữ “manh nhân”, “hạt tử” có nghĩa người khiếm thị, kể cả chữ sứ quán cũng bị TC khóa. “Báo đài” của Đảng Nhà Nước giấu kín bưng. 

Nhưng Đảng Nhà Nước thua dân Trung Hoa với tai mắt đông và nhiều thành như “thiên lý nhĩ, thiên lý nhãn”. Thông tấn xã của Anh Reuters cho biết nhiều thông tin nghị luận về vụ này vẫn được công dân mạng xé rào loan tải,được quần chúng nhiệt liệt hoan nghinh,ủng hộ người luật sư chân đất, mù lòa chống Đảng Nhà Nước cưỡng bách phá thai, giết hài nhi trong trứng nước, chiếu theo chính sách gia đình người Trung Hoa chỉ được một con.. 

Tiêu biểu như lời dẫn của RFI, Blogger “Sikeyadi” viết : “Tuyệt vời! Quả thực là nhà luật sư mù đã được giải cứu. Ánh sáng tự do bùng cháy mạnh mẽ…” Và blogger “sporadicspor” tuyên bố: “Những thành tựu của nhà luật sư mù này làm tôi có thể mạnh dạn nói rằng tại Trung Quốc, chúng tôi có những con người thực sự bất khuất”.

Nhiều phương tiện truyền thông ngòai luồng ở TC loan truyền khắp thế giới và truyền thông chính thống khắp thế giới loan tải biến Ls Thành, một người tật nguyền, khiếm thị thành anh hùng dân tộc của người Hoa và một nhà đấu tranh nhiều người khâm phục. Và  Đảng Nhà Nước TC thêm mất mặt với hành động bắt bớ, giam cầm, quản thúc nghiêm ngặt, dùng 60 công an canh gác người không thấy đường. Sau đó còn quản thúc mẹ, đánh vợ của vị LS này nữa. 

Hai, Mỹ bị thử thách về nhân quyền. Vụ Ls Thành đào thóat và vào xin tỵ nạn chánh trị trong Tòa Đại sứ Mỹ tạo thành một bất ngờ đầy bối rối cho Mỹ. Mỹ từ chối không bình luận về nơi Ls Thành đang ở. TT Obama không tuyên bố một tiếng nào về việc này. Phụ tá Ngoại trưởng Hoa Kỳ Kurt Campbell đi Bắc Kinh, không một hở môi, theo nguyên tắc mật đàm. 

Chỉ có ông John Brennan, cố vấn chống khủng bố hàng đầu của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, phát biểu trên đài truyền hình Fox rằng, ông Obama sẽ làm bất kỳ điều gì, mà ông nghĩ phục vụ tốt nhất lợi ích của Hoa Kỳ, cũng như những cá nhân liên quan.

Nguy cơ căng thẳng giữa Washington và Bắc Kinh cao. Vụ Ls Thành xảy ra không hợp thời cho TT Obama. Chính quyền Obama sẽ bán máy bay chiến đấu cho Đài Loan, nhứt định TC phẩn nộ như mọi khi. Ngoại trưởng Hillary Clinton là người trước đây đã làm áp lực chính phủ TC đòi phóng thích ông Trần. Cuộc họp thường niên Mỹ-Trung về quan hệ và mở rộng phạm vi hợp tác giữa hai nước sắp mở ở Bắc Kinh. Bà Clinton và Bộ trưởng Tài chính Timothy Geithner sắp phải đi Bắc Kinh dự họp. Tình hình này thì khó ăn nói với TC. Giáo sư về quan hệ Trung-Mỹ tại trường Đại học Bắc Kinh, Ô. Chu Phong gọi vụ Ls Thành là là một “củ khoai nóng” – nghĩa là một đề tài tế nhị – cho cả hai nước.

Và quan trọng nhứt đối với chánh quyền Obama, đây là mùa bầu cử, sơ hở một chút trong việc Ls Thành tỵ nạn chánh trị ở Tòa Đại sứ, thì Cộng Hòa và những người đối lập sẽ kể thêm tội Ông bên cạnh những tội không thành công trong thương lượng hạ giá đồng nhân dân tệ của TC, TC không mở cửa rộng hơn cho hàng hóa Mỹ nhập cảng vào TQ.  

Thêm vào đó, là một cái kẹt lớn cho chánh quyền của TT Obama. Trước đây thêm một vụ, Ông Vương Lập Quân cán bộ gộc đầu ngành công an, mật vụ ở Trùng Khánh vào tòa tổng Lãnh sự xin tỵ nạn chánh trị, bên ngòai hàng công an bao vây kín tòa tổng lãnh sự.  Sau này tin đài VOA, tiếng nói chánh thức của chánh quyển Mỹ, cho biết đã nói gây một tranh luận trong cơ quan lãnh sự này và với bộ ngọai giao Mỹ xem coi cho hay không cho Ô.  Quân tỵ nạn chánh trị, làm sao đưa đi, và hậu quả trong tương quan ngọai giao giữa CS Bắc Kinh và Washington. Sau cùng Bộ ngọai Giao quyết định trao trả cho nhà cầm quyền Bắc Kinh, chớ không giao cho nhà cầm quyền địa phương Trùng Khánh. 

Còn bây giờ Ls Thành lại vào Tòa Đại sứ ở Bắc Kinh xin tỵ nạn chánh trị, thì Bộ ngọai Giao tính sao. Việc xin tỵ nạn chánh trị của Ls Thành không đúng lúc. Gần ngày bầu cử của TT Obama, TT Obama đâu muốn gây sóng gió với Bắc Kinh. Công luận Mỹ đang không tốt về Ông trong việc đối phó với TC trong vấn đề Mỹ yêu cầu TC hạ giá đồng tiền để giao thương của Mỹ bớt thiệt thòi, việc làm của người Mỹ không bị thiệt hại. Hồ sơ nguyên tử ở Bắc Triều Tiên, Iran, TC luôn chống Mỹ. Hồ sơ nhân quyền ở Syria, Sudan,TC không bao giờ nhượng bộ Mỹ. Còn Mỹ tập trung và dồn dập hướng về Á châu, dự vào các vấn đề biển ở Đông Nam Á, TC cáu kỉnh gần như phẩn nộ. 

Và về hồ sơ nhân quyền từ TT Obama đến Ngọai Trưởng Clinton có nói mà không có làm điều gì cụ thể coi cho được đối với TC. 

Người Mỹ không thể quên việc TT Obama không tiếp Đức Đạt Lai Lạt Ma trước chuyền công du TQ đầu tiên của Ông. 

Mỹ nhượng bộ Bắc Kinh, trao trả Ls Thành thì danh tiếng bảo vệ nhân quyền chỉ là lời nói suông đối với quốc tế, thiếu thành tín với người dân bị áp bức. Mỹ cho tỵ nạn CS thì TC phẩn nộ.

Ba, hoãn binh chi kế là thượng sách trong thời kỳ bầu cử của TT Obama. Liệu chánh quyền TT Obama áp dụng tiền lệ Phương Lệ Chi, một nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng nhất Trung Quốc  được công luận gán cho biệt danh là Sakharov Trung Quốc,đã trốn vào đại sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh ngay sau khi phong trào Mùa xuân Bắc Kinh bị đàn áp năm 1989. Mỹ để ông sống một năm ròng rã ở đấy, sau đó mới cho đi tỵ nạn chánh trị ở Mỹ và mới qua đời  hồi tuần qua. Chờ xem kết quả bài trắc nghiệm  về nhân quyền của  TT Obama trong thời gian tới.

THẮP HƯƠNG TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ TẠI LITTLE SAIGON

 Hue Vuong
Lễ Thắp Hương Tưởng Niệm 30 Tháng Tư năm nay được tổ chức đúng ngày 30 Tháng Tư theo lịch trình gồm một chuỗi sinh hoạt Tưởng Niệm mà Ủy Ban Tưởng Niệm 30 Tháng Tư gồm nhiều tổ chức, hội đoàn, tại miền Nam California hoạch định. Thắp Hương Tưởng Niệm là buổi lễ sau cùng của người Việt tỵ nạn cộng sản trong mùa Tưởng Niệm Tháng Tư Đen năm nay với khẩu hiệu “Hải Ngoại Đoàn Kết – Quốc Nội Vùng Lên”. Tất cả đều cùng một ước nguyện mong cho đất nước sớm có được Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền….

Trung Cộng, Mục Tiêu Mỹ

 

Vi Anh
Hai chuyển động của Bộ Quốc Phòng Mỹ trong tuần lễ thứ tư của tháng Tư năm 2012 – lập cơ quan tình báo mới và tái phối trí lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ ở Okinawa — cho thấy Trung Cộng là mục tiêu quân sự của Mỹ ở Á châu Thái bình Dương.

Một, Bộ Quốc Phòng Mỹ lập một cơ quan tình báo mới chuyên trách chánh yếu về Trung Cộng.  Hầu hết các thông tấn xã và báo chí của các siêu cường Âu, Mỹ ngày 24-4-12 đều loan tải tin Bộ Trưởng Léon Panetta vốn là cựu Giám đốc của CIA được cử qua làm Trưởng Quốc Phòng Mỹ thành lập mở một cơ quan tình báo mới đặc biệt cho quân đội. 

Đó là cơ quan tình báo mật của quân đội Mỹ (Defense clandestine service, DCS). Cơ quan này kết hợp làm việc với CIA với nhiệm vụ như gián điệp, họat động ngòai vùng có chiến trận Nó khác với cơ quan tình báo truyền thống của quân đội là DIA lâu nay có nhiệm vụ cung ứng tin tình báo chiến thuật trong vùng có chiến tranh. Trung Tướng Michael Flynn tuần trước được Bộ cử nhiệm vào làm giám đốc DIA và sẽ giám sát luôn cơ quan tình báo mới thành lập DCS này. DCS dự trù phát triển thêm vài trăm điệp viên trong những năm tới. Ứng viên chắc hẳn cần những người Mỹ gốc các nước Á châu Thái bình Dương.

DB Mike Rogers (Đảng Cộng hòa,  bang Michigan) Chủ tịch Ủy ban Tình báo Hạ viện Mỹ, gởi điện thư ủng hộ cơ quan tình báo mới này và sự phối họp với CIA.

Trong thời TT George W. Bush, Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld muốn tăng gia khả năng tình báo quốc phòng sang những lãnh vực theo truyền thống thuộc CIA. Nhưng Bộ Quốc Phòng không làm được vì sự chống đối của CIA. 

Nhưng bây giờ cơ quan CIA do một vị tướng lãnh chỉ huy, là Tướng David Petraeus. Nhiệm vụ tình báo của quân đội và của CIA thường chia xẻ và phối hợp với nhau. Nhân viên tình báo quốc phòng, thường làm việc trong các cơ sở của CIA tọa lạc trong tòa dại sứ Mỹ, thực tế đã cộng tác với nhau trong nhiều vấn đề ở hải ngọai.

Một cộng tác và phối hợp hài hòa và thành công của tình báo quốc phòng và CIA đã đưa đến kết quả thành công vượt mức trong cuộc hành quân hạ sát Ben Laden ở Pakistan, hồi năm 2011. Hai ngành cũng đã phối hợp trong việc theo dõi và bắt và giết những cán bộ chỉ huy lãnh đạo của Al-Qaida ở Yemen.

Với cơ quan tình báo mật DCS của quân đội mới thành lập chuyên trách về TC, và CIA có từ lâu, coi như TC bị hai cơ quan tai mắt của Mỹ, một quân sự và một dân sự, đặc biệt theo dõi.

Hai, về tái phối trí Thủy Quân Lục Chiến. Song song với việc tăng cường hợp tác quân sự với Singapore, Philippines và Úc, Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu liên quân Mỹ đã có  kế hoạch đã được hai chính phủ Mỹ và Nhật đồng ý,  Mỹ sẽ tái phối trí lực lượng Thủy Quân Lục Chiến ở Á châu để đáp ứng nhu cầu chiến lược, chiến thuật mới, mà mục tiêu là tấn công và phòng ngự TC. Điều 9,000 Thủy Quân Lục Chiến từ Okinawa qua Guam 5,000 người, qua Úc 2,500 người và qua Hawai khỏang vài ngàn để làm lực lượng tiếp ứng, giữ lại tại Okinawa 10,000 người . 

Mỗi nơi phụ trách một vùng chiến thuật ở Á châu Thái bình dương, xung quanh TC. Các đơn vị Thủy quân lục chiến đồn trú tại Okinawa sẽ phụ trách khu vực bán đảo Triều Tiên và biển Hoa Đông; lực lượng ở Guam, vùng Tây Thái Bình Dương; lực lượng ở  Darwin, miền Bắc Úc khu vực Biển Đông và Ấn Độ Dương và Thủy quân lục chiến đặt ở Hawaii, trừ bị,tiếp ứng.

Ngoại trưởng Nhật Koichiro Gemba tuyên bố với báo chí rằng thỏa thuận này «là tất yếu phản ánh một thực tế trong khu vực trong bối cảnh Trung Quốc gia tăng sức mạnh». Nhựt đóng góp khoảng 8,6 tỷ đôla để chia xẻ với Mỹ việc điều động này. 

Theo nhận định của phần đông chiến lược gia trên báo truyền thông quốc tế, việc bố trí lại lực lượng này của Mỹ là phương án hữu hiệu nhằm tăng cường khả năng tiến công của Thủy quân Lục chiến Mỹ trong khu vực châu Á -Thái Bình Dương, phù hợp với chiến lược quốc phòng mới của Mỹ tập trung nhiều hơn vào khu vực châu Á, trước sự trổi dậy của TC về quân sự, hành động bành trướng và giành thế hải thượng với Mỹ ở vùng biến Á châu Thái bình dương.

Ba, về hải lực và không lực dọ thám. Trước khi điều động thủy quân lục chiến ở Okinawa, Mỹ có 11 hàng không mẫu hạm, Bộ Quốc phòng và Tổng Tham mưu đã điều về vùng Á châu Thái bình dương 6 chiếc, đa số được dùng vào lực lượng tấn công.

Thành phố Perth của nước Úc, như Tây Đô của Úc, với dân số hơn 1,5 triệu hồi năm 2006, chánh quyền Úc đã đồng ý cho được hàng không mẫu hạm, các tàu lặn nguyên tử Mỹ ghé tiếp tế, nghỉ ngơi, như một căn cứ an tòan hải ngọai của Mỹ. 

Tờ báo gối đầu giường của chính khách Mỹ là Washington Post cũng cho biết Úc cũng đồng ý cho Mỹ sữ dụng quần đảo Cocos, một nhóm đảo san hô  của Úc nằm trong Ấn Độ Dương và ở phía tây bắc của Australia, làm nơi xuất phát cho các máy bay dọ thám không ngươi lái của Mỹ. Quần đảo Cocos của Úc sẽ thay thế cho căn cứ Diego Garcia của Mỹ tại Ấn Độ Dương, theo tin của AFP.

Bốn và sau cùng, việc Mỹ lập cơ quan tình báo quân sự mới và điều quân của Mỹ như trên cho thấy TC là mục tiêu gần  hay xa của Mỹ và Mỹ sẵn sàng để phòng ngự hay tấn công. Chính Đại sứ Mỹ tại Úc Jeffrey Bleich nhận định là từ căn cứ  Daewin ở miền Bắc nước Úc, có thể đi thẳng ra Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Biển Đông Timor và tất cả các tuyến đường thương mại xung quanh. Điều này tạo một lợi thế mạnh và lớn cho Mỹ trên Thái bình Dương. Mỹ có thể dễ dàng tung quân ra xa một cách nhanh chóng.

Nhớ xưa trong Thế Chiền thứ hai, ở Á châu, sai lầm chiến lược của Nhựt là tấn công Trân châu Cảng quá sớm. Nếu chưa tấn công, Mỹ chưa tập trung vào chiến trường Á châu, chưa tấn công thẳng vào nước Nhựt. Bây giờ TC “quậy” quá sớm ở Á châu Thái bình Dương, trái với lời khuyên của Đặng tiểu Bình đừng lộ mặt quân sự để phát triễn kinh tế; nên Mỹ mới tập trung lực lương về Á châu Thái bình dương và được hầu hết các nước ủng hộ xem như lá chắn trước đà bánh trướng của TC.

Có người nói, TC không làm không được vì sự sống còn của vấn đề kinh tế của TC. Dưới đáy của vùng biển Đông Nam Á mà TC đang đơn phương xác quyết chủ quyên là trữ lượng dầu lửa và khí đốt nhiều hơn của Á rập Saudi, nước có nguồn dầu và khí lớn nhứt thế giới. TC đang bị lời nguyền rủa của dầu lửa./.


30/4- NỖI BUỒN BẤT TẬN

Đinh Lâm Thanh, 4/2012

Một nỗi buồn bất tận lại trở về mỗi năm với người dân Miền Nam, nhất là đối với những ai đã bỏ nước ra đi vì không chấp nhận chế độ cộng sản. Đến nay đã 37 năm, tưởng rằng vết thương lòng đã phai dần với thời gian, nhưng thực tế, nỗi đau cứ mãi chồng chất mỗi ngày mỗi sâu đậm hơn.

Vẫn biết rằng thời gian là liều thuốc hiệu nghiệm nhất, có thể giúp cho người ta quên đi những khổ đau thầm kín trong tâm hồn cũng như thể hiện ngoài thể xác, đồng thời thời gian cũng còn là động lực xóa dần những xung khắc và hận thù giữa con người với nhau. Như tất cả chúng ta đều biết, bản tính người Việt Nam thật hiền hòa và dễ dàng tha thứ…Nhưng tại sao đã 37 năm qua, nỗi buồn của ngày 30.4 vẫn còn đó ? Và tại sao thời gian không thể xóa đi những nỗi đau đã khắc sâu trong trí óc và quả tim của hàng chục triệu người Việt Nam ? Xin phép trả lời đơn giản rằng, vì các hình ảnh đau thương do chế độ cộng sản gây nên từ 37 năm qua đã không chấm dứt mà vẫn liên tục xảy ra càng ngày càng trầm trọng và càng tồi tệ hơn so với thời gian chúng vừa cướp nước vào cuối tháng Tư năm 1975.

Nỗi buồn của người Việt Tỵ Nạn cộng sản càng ngày càng gia tăng theo thời gian, xin vắn tắt nêu ra vài điểm chính qua hai giai đoạn:

A. Nỗi buồn kể từ ngày mất nước:

1- Vì quyền lợi, người bạn Đồng Minh đã bán đứng Việt Nam cho Tàu cộng và bật đèn xanh cho việt cộng xua quân xâm chiếm Việt Nam. Vừa đặt chân vào Miền Nam cộng sản Hà Nội đã vơ vét tài nguyên quốc gia và của cải dân chúng rồi ngày đêm vác vể Miền Bắc dưới danh từ giải phóng và thống nhất đất nước. Tập đoàn cộng phỉ Hà Nội không chừa bất cứ một thứ gì, từ những cái nhỏ nhặt như soong nồi chén bát, cái bàn chiếc ghế, quạt máy, tủ lạnh cho đến các bảo vật triều Nguyễn trong cung cấm, vàng bạc của ngân khố Quốc Gia Việt Nam…chúng đã xử dụng đủ các phương tiện vận chuyển để đưa về Bắc.

2- Tịch thu toàn bộ tài sản tư hữu của những người thuộc chế độ cũ (VNCH) và biến họ thành những đạo quân ăn mày…rồi xua lên núi, đẩy xuống biển, chiếm nhà lấy đất để phân phối cho bà con dòng họ đói rách từ Miền Bắc kéo vào, xem như chiến lợi phẩm của một bọn cướp đội tên giải phóng và thống nhất. Chưa hết, chúng chủ trương bần cùng hóa và bao tử hóa toàn bộ dân Miền Nam bằng chế độ hộ khẩu (nghĩa là dùng bao tử để ‘quản lý’con người), bằng hành động đánh tư bản và xảo thuật đổi tiền nhiều lần. Sau những thảm họa nầy, người dân Miền Nam, từ giàu xuống nghèo đều trắng tay như nhau, sắn khoai thay cơm cháo và trên người chỉ còn mảnh vải che thân…

3- Một cuộc trả thù vĩ đại với trên 1.000.000 quân-cán-chính thuộc chế độ cũ phải vào tù khổ sai trong các trại được mệnh danh là cải tạo (Encyclopedia of the Vietnam War). Thành phần ưu tú Miền Nam nầy bị cộng sản giam cầm tra tấn và ngược đãi, kết quả, 165.000 người đã chết trong các trại tù (Million of live changed forever with Saigon’s fall – Orange Country Register) vì bệnh tật và thiếu dinh dưỡng. Chỉ riêng với điều nầy, tập đoàn cộng sản đã vi phạm trầm trọng điều khoảng nhân đạo về việc giam cầm và cư xử đối với tù nhân chiến tranh. Hơn nữa, theo quy ước quốc tế, kẻ bại trận đã đầu hàng và ra trình diện (không phải bị bắt lúc đang giao tranh) thì không một lý do gì để cộng sản Hà Nội có thể kết tội và đày khổ sai từ 3 năm đến trên dưới 20 năm và cho đến nay vẫn còn nhiều người bị mất tích hay bị biệt giam tại một nơi nào đó.

4- Một cuộc vượi biên vĩ đại có một không hai trong lịch sử nhân loại. Hàng triệu người đã từ bỏ gia đình, cha mẹ, vợ con, bạn bè, mồ mả, xóm làng ra đi và để thoát bàn tay quỷ đỏ cộng sản. Họ đã chấp nhận với sóng gió, với đói khát, với biển cả và hải tặc để đánh đổi hai chữ tự do. Không thể nào có con số chính thức, vì những gia đình cũng như thân nhân của họ không bao giờ tiết lộ việc vượt biên bằng đường biển hay đường bộ, do đó con số tử vong trên biển cũng như những cuộc băng rừng vượt núi tìm đường qua Miên, Lào cũng như Thái Lan…chỉ nằm trong ước đoán là khoảng nửa triệu người đã bỏ mình trên biển cả và trong các chướng ngại núi rừng cũng như rơi vào tay công an bộ đội biên phòng. Vậy tổng cộng gần một triệu, gồm những người đã hy sinh vào giờ thứ 25, bỏ mình dưới lòng đại dương, chết trong các trại cải tạo hay mất tích trên vùng rừng núi…là hình ảnh đau buồn vô tận của ngày Quốc Hận…thì làm sao người dân Miền Nam cũng như những người Tỵ Nạn ở nước ngoài có thể quên được.    

Nhưng tội ác của tập đoàn cộng sản đã không ngưng ở chỗ nầy mà chúng vẫn còn gây ra nhiều thảm họa cho đất nước và dân tộc Việt Nam kể từ ngày chúng chiếm được Miền Nam cho đến nay, điển hình qua ba vấn đề quan trọng.

Thứ nhất: Nạn tham nhũng, cộng sản không bỏ sót bất cứ việc gì để thu vào túi tham không đáy của chúng, từ việc lấy nhà cửa, đất đai ruộng vườn của dân biến thành của riêng cho dòng họ bà con cũng như bán cho nước ngoài.

Thứ hai: Đem tổ quốc giang sơn dâng cho Tàu cộng là kẻ thù không đội trời chung của dân tộc Việt Nam. Cũng vì sự sống còn của đảng và để giữ vững địa vị của chúng, tập đoàn cộng sản đã cam tâm cúi đầu dâng đất nước và dân tộc Việt cho bọn Tàu đỏ, biến đất nước thân yêu của chúng ta thành một tiểu quốc của Tàu cộng.

Thứ ba: Tập đoàn việt gian cộng sản đã dồn tất cả khả năng để đánh phá người Việt nước ngoài trong chương trình yểm trợ cuộc tranh đấu chung của toàn dân trong nước. Dưới chiêu bài nghị quyết 36, cộng sản việt gian đã tung ra hàng trăm triệu mỹ kim để thành lập các cơ sở phá hoại, thuê mướn và trả tiền thưởng cho thành phần nằm vùng, có mồi, dính chàm và bọn trở cờ, hòa giải hòa hợp để luân phiên đánh phá cộng đồng trên các phương diện chính trị, ngoại giao, truyền thông, văn hóa, nghệ thuật cũng như tôn giáo, thương mãi và du lịch.  

B. Nỗi buồn của ngày hôm nay:

Như đã trình bày ở phần trên, việt gian cộng sản đã dùng tiền bạc để gài bẫy, mua chuộc và chỉ huy một số người Việt Quốc Gia gốc tỵ nạn nhằm đánh phá cộng đồng chúng ta trên các xứ tự do. Việc đánh phá của chúng xảy ra dưới nhiều hình thức nhưng nổi bật nhất là âm mưu triệt hạ Cờ Vàng Chính Nghĩa và làm lu mờ ngày Quốc Hận của Người Việt Quốc Gia. Đây là hai việc trọng đại mà việt gian cộng sản đã, đang và sẽ tận lực đánh phá qua bàn tay thành phần nằm vùng đang sinh hoạt lẫn lộn giữa chúng ta.

1- Cờ vàng Chính Nghĩa là linh hồn, là lý tưởng và là mục tiêu tranh đấu cho Tự Do, Nhân Quyền, Dân Chủ và No Cơm Ấm Áo cho người dân Việt đang sống dưới chế độ cộng sản. Cờ Vàng Chính Nghĩa là một trở ngại lớn cho việc nhuộm đỏ các cộng đồng, do đó tập đoàn cộng sản phải tìm mọi cách để triệt hạ cho bằng được. Nhưng chúng đã hoàn toàn thất bại. Các vùng đất tự do nơi có người Việt tỵ nạn định cư không còn thấy hình dáng cờ máu của chúng nữa. May ra chỉ còn treo được ở tại cơ quan ngoại giao, và có cơ hội, chúng và ra lệnh cho bọn nằm vùng treo lén ban đêm ở một vài nơi. Nhưng rồi chỉ vài giờ sau, cờ máu cũng bị ngưòi tỵ nạn hợp với chính quyền địa phương hạ xuống và thay vào đó bằng Cờ Vàng Chính Nghĩa.

2- 30.4 là ngày đại tang của dân tộc, nổi bật và đáng nghi nhớ nhất của những ai đã bỏ nước ra đi. Quốc hận chính là ngon đuốc cháy sáng nhằm thúc đẩy công cuộc tranh đấu cho Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền, là Ngọn Lửa hâm nóng tinh thần Quốc Gia để mọi người không thể quên những tang thương đau buồn mà chế độ Hà Nội đã gieo xuống trên Quê Hương và Dân Tộc Việt Nam kể từ ngày chúng xua quân tiến chiếm Miền Nam. Do đó những hình ảnh của ngày đại tang 30.4 không thể nào phai mờ được trong tâm khảm người Việt Tỵ Nan. Vậy ngày Quốc Hận là Ngày Quốc Hận chứ không thể mập mờ đổi thay đổi. Đây là âm mưu của tập đoàn việt gian cộng sản, chúng đã chỉ thị cho đám nằm vùng và những tên ham danh, tham tiền để thi hành các việc sau:

3- Đổi tên ngày Quốc Hận ra thành ngày Thuyền Nhân là một trò ma giáo chơi chữ của nhóm người nằm vùng. Quốc Hận là ngày tưởng niệm đau buồn vô tận của lịch sử người Miền Nam tự do cũng như người Việt Tỵ Nạn cộng sản. Còn ngày Thuyền Nhân là gì ? Chỉ là hình ảnh nhất thời để nhớ lại những kỷ niệm lúc bỏ nước ra đi. Nỗi Quốc Hận khác xa với hai chữ Thuyền Nhân một trời một vực, thì không thể nhập nhằng đánh tráo để lãng quên đi niềm đau của những người mất nước. Nếu cộng đồng người Việt Tỵ Nạn không cương quyết đập tan âm mưu nầy thì một ngày gần đây, thành phần nằm vùng lại ra đưa lời kêu gọi đổi tên một cách lộ liểu và rầm rộ hơn nữa. Lúc đó bọn đón gió cò mồi, kẻ tung người hứng và hùa nhau áp đảo trên các diễn đàn ngôn luận cũng như các cơ quan truyền thông. Chúng sẽ lì lợm lấn át tiếng nói của những người Quốc Gia quyết tâm chống cộng và bảo vệ đến cùng ý nghĩa của ngày Quốc Hận.

4- Thành phần nằm vùng thường chọn thời điểm cuối tháng Tư để tổ chức ca hát, ăn chơi nhảy nhót dưới các chủ đề vinh danh, nhớ ơn, mừng chiến thắng để ca tụng già Hồ, các tay cộng sản và thành phần văn-nghệ-sĩ nằm vùng (như Trịnh Công Sơn, Phạm Duy…). Trường hợp năm nay (2012) nhiều đêm dạ vũ văn nghệ diễn đúng vào các ngày 29, 30, tháng 4 và 01 tháng 5 tại Châu-Âu nhằm đánh vào Người Việt Tự Do ở NaUy, Pháp và Đức. Mục đích của cộng sản là dùng thành phần năm vùng đánh thẳng vào ngày Quốc Hận với hai mục đích: Trực diện thách thức khối người Việt Tỵ Nạn và đánh phá định kỳ vào dịp tưởng niệm đau buồn này 30.4 mỗi năm. Mục đích cuối cùng của cộng sản là chúng muốn xóa bỏ ngày Quốc Hận.    

Tóm lại, các sinh hoạt cộng đồng của người Việt Tự Do trên thế giới trong 37 năm qua đã thực hiện tốt hầu hết trên các lãnh vực. Tuy nhiên việc duy trì tinh thần tranh đấu của người Việt Tự Do, cần thiết và quan trọng hơn tất cả, là phải bảo vệ Cờ Vàng Chính Nghĩa Quốc Gia và giữ vững tinh thần Ngày Quốc Hận 30.4. Nếu hai vấn đề hệ trọng nầy bị lơ là xao lãng thì một ngày rất gần các cộng đồng người Việt Tỵ Nạn trên những vùng tự do sẽ bị nhuộm thành màu đỏ.

Để kết thức bài viết, xin ghi lại nguyên văn câu đối thoại mà tôi đã nghe một vài người thốt ra trong những lần gặp mặt: ‘Nhờ Hà Nội vào giải phóng, chúng tôi mới có cơ hội được ra nước ngoài…và cũng nhờ cộng sản mà ngày nay chúng tôi mới có xe hơi đẹp để đi, có nhà hai ba từng lầu để ở. Nếu không, thì giờ nầy gia đình tôi vẫn đạp xe ba gác, vẫn bán chạp phô hoặc chui rúc trong các chợ trời, chợ chạy’ ! Thật đau buồn trước những lời vàng ngọc của những bị thịt ‘ba tàu chợ lớn’ và thành phần ‘chợ trời vượt biên’. Nhưng đối với thành phần nầy, chúng chưa phải là động lực chính làm cho chúng ta quá đau trong các sinh hoạt cộng đồng, mà nỗi buồn sâu đậm hơn của người tỵ nạn ngày nay chính là một số người trước kia, đã một thời khoác chiếc áo trận, phục vụ dưới màu cờ chính nghĩa Quốc Gia và đã chấp nhận đánh đổi mạng sống vượt biên đi tìm tự do, nhưng ngày nay chạy theo nhu cầu vật chất của kẻ thù để quay trở lại đánh phá những người tranh đấu chống cộng sản.

Đó là lý do tại sao nỗi buồn của người tỵ nạn đến nay vẫn chưa dứt, mà trái lại, càng ngày càng tăng thêm. Đó phải chăng là vì hành động của các thành phần dòi bọ trên đây đang có mặt đầy dẫy trong cộng đồng của chúng ta !

Đinh Lâm Thanh

Paris, 29.4.2012

Tháng Tư Đen Quốc Hận

Mường Giang

 

 

“Sao quên được, tháng tư đen mất nước

máu nhuộm hồng cả sóng biển xanh mơn

xương trắng phơi khắp sông núi Trường Sơn

người chết thảm, nơi bến tàu sân đợi

sao quên được những phút giờ hấp hối

trong chiến hào, giữa đồn vắng không tên

lính tuyệt vọng, nhìn mấy trắng cô đơn

chờ pháo bạn, ngóng phi tuần trở lại..”

 

 

Ôi những lời thơ nhức nhối, khiến cho người Sài Gòn và các quân, dân, cán, chính cũng như đồng bào chiến cuộc miền Trung, đã có mặt tại thủ đô trong đêm 29 rạng ngày 30-4-1975, làm sao quên được?. Ðây là giây phút cuối cùng của cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1960-1975), những ai may mắn sống sót, sẽ không thể nào quên nổi cái đêm hôm ấy là đêm gì, trong thân phận nhược tiểu Việt Nam, mà thời gian như dài vô tận.

 

Ðêm đó cả Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Ðịnh đều bị cúp điện. Nhưng trên trời cao, trong cái khoảnh không gian bao quanh Sài Gòn, lúc đó lại được soi sáng mờ mờ ảo ảo, bằng đủ các loại đèn của máy bay trực thăng, cho tới trưa ngày 30-4-1975 mới dứt. Sau này, dân đen Sài Gòn và những người di tản ra ngoại quốc, qua báo chí cùng tài liệu mật được Mỹ công bố, mới biết được “Ðêm 29-4-1975: là thời gian cuối cùng của Hoa-Kỳ tại Nam VN”. Cũng trong đêm đó, nhờ sự bảo vệ của các đơn vị còn lại của QLVNCH bị bỏ rơi và bán đứng, đang tử chiến với cọng sản đệ tam quốc tế ở dưới đất, nên siêu cường Mỹ đã an toàn rời khỏi Sài Gòn, trong danh dự, bằng hằng trăm trực thăng đáp khẩn cấp, trên các mái nhà khắp đô thành, trong khuôn viên cơ quan Dao và Toà Ðại Sứ.

 

Ðêm đó cũng là giờ thứ 25 của VNCH và chính tổng thống cuối cùng là Dương Văn Minh, đã ra lệnh cho “quân đội miền Nam buông súng đầu hàng, cũng như ký lệnh đuổi Mỹ ra khỏi nước”. Ðây là hai đề tài dai dẳng và nhức nhối của những trang cận sử tháng tư đen. Chính nó, đã gây nên cuộc bút chiến, giữa các vị khoa bảng, trí thức xôi thịt của miền Nam, trong số này có rất nhiều người từng đâm sau lưng người lính trận. Ðây cũng là dịp ngàn vàng hiếm hoi, để họ được sống lại cái thuở tự do báo chí của năm nào nơi quê nhà. Bởi vậy trên diễn đàn và báo chí hải ngoại, người ta lại đánh nhau bằng bọt mép và chữ nghĩa. Tóm lại suốt thời gian rất dài, không ai chịu thua ai, người nào cũng cố vận dụng tất cả văn phong, đao to búa lớn, qua cái danh giá dõm của những tờ ‘đại nhật báo’ để muôn đời sống mãi với lập trường ‘ba làng ấm ớ’ của mình. Rốt cục, nhờ ánh sáng mặt trời soi sáng gần hết những bí ẩn của cận sử, trong đó có hai vấn đề liên quan tới Dương Văn Minh. Nhờ vậy mới chấm dứt được cuộc đấu võ mồm vô duyên, đã làm phiền lòng cũng như tốn giấy bút và thời gian quý báu của người Việt tị nạn cọng sản khắp hoàn cầu.

 

Thì ra, cả hai hành động ra lệnh “cho QLVNCH đầu hàng cũng như đuổi Mỹ ra khỏi Sài Gòn”, đều không phải là quyết định của tổng thống Dương Văn Minh và nội các hai ngày của ông. Theo tài liệu của Hứa Hoành trong ‘Nam Kỳ Lục Tỉnh số IV’, thì ông Dương Văn Minh chỉ làm theo lệnh của cọng sản Hà Nội. Riêng việc đuổi Mỹ, thì do Ðại Sứ Martin của Hoa Kỳ nhờ phổ biến. Ðọc Phạm Bá Hoa, nơi trang 235 của tuỳ bút ‘Ðôi dòng ghi nhớ’, về việc chính ông Dương Văn Minh, đã xác nhận năm 1991 tại Paris, trong bàn tiệc lúc đó có Trần Văn Ðôn và Nguyễn Linh Chiểu. Chính Ðại Tá Chiểu đã hỏi Dương Văn Minh, tại sao mới nhậm chức có một ngày, đã đuổi Mỹ?. Tổng thống Minh đã trả lời: ‘Moa không đuổi họ, bản văn (đuổi Mỹ) được phổ biến trên đài phát thanh vào sáng sớm ngày 29-4-1975, do chính Martin viết và nhờ Moa phổ biến. Có vậy Mỹ mới rút khỏi Sài Gòn trong danh dự’.

 

Như vậy, hai sự kiện quan trọng nhất của cận sử VN đã được chính những người trong cuộc, xác nhận bằng văn tự chứ không phải là miệng đời, cho nên không thể nào nói là bịa chuyện hay là vì ghét người mà bôi bác. Sự thật lúc đó người Mỹ đã phải tạm rời khỏi mảnh đất đau khổ VN, vì nơi này không còn một giá trị gì nữa, để mà nấn níu hòng đổi chác và lợi dụng Có điều hành động tháo chạy của Hoa Kỳ vào giờ thứ 25, thật là tàn nhẫn và lố bịch. Năm 1954, người Pháp sau khi bị quốc dân VN đánh bại tại Ðiện Biên Phủ, lúc đó dù đã kiệt sức. Nhưng Họ vẫn cố gắng giữ thể diện, bằng cách tạo hoàn cảnh để rút quân về nước trong danh dự và tự trọng. Ngoài ra vào giờ 25 trên đất Bắc, người Pháp cũng không đem con bỏ chợ, khi tận lực giúp đỡ các đơn vị của Quân Ðội Quốc Gia VN đang chiến đấu tại đó, và hơn một triệu người Việt, không muốn sống chung với cọng sản, được di cư vào tìm tự do tại miền Nam. Riêng người Mỹ sau khi đã liên kết được với Trung Cộng, hoạch định thế chiến lược mới, nên phải rút khỏi VN. Ðể có lý do biện minh với thiên hạ, Hoa Kỳ đã ngụy tạo một hiệp định ngưng bắn giả tạo mà thực chất là đã bán đứng đồng minh của mình cho kẻ thù chung năm 1973. Rồi trong giờ phút hấp hối của VNCH nhưng với nguời Mỹ lúc đó, nếu muốn có thể lật ngược thế trận một cách dễ dàng, để bắt cọng sản quốc tế phải rút về phía bên kia vỹ tuyến 17, như họ đã từng đánh đuổi cả triệu quân Trung Cộng và Bắc Hàn, trong cuộc chiến Cao Ly năm 1950.

 

Nhưng than ôi! Mỹ đã cúi mặt chịu nhục nhã, trốn chạy khỏi Nam VN trong đêm tối, bằng các trực thăng đáp khẩn trên mái nhà, qua sự bảo vệ của QLVNCH trong giờ phút hấp hối dưới đất. Tàn nhẫn hơn, đám lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tại Tòa Ðại Sứ, còn bắn trái khói đạn cay vào rừng người VN trước mặt, đã từng phục vụ cho họ hết lòng, lúc đó đang cần chạy khỏi nước để cứu mạng.

 

Hành động trên đã nói lên đầy đủ bản chất thật của người Mỹ: ‘Tiền trao cháo múc’, hay đúng hơn Mỹ vào VN vì quyền lợi của họ thế thôi.

 

1 – NGƯỜI MỸ VÀO VIỆT NAM:

 

Người Mỹ bắt đầu dòm ngó thương trường VN từ thời Vua Gia Long Nhà Nguyễn. Thế chiến II (1939-1945) Mỹ lại vào Việt Nam để chống lại quân phiệt Nhật và cuối cùng là trực tiếp tham dự Ðông Dương thế chiến 2 (1960-1975). Từ sau năm 1991, Liên Xô và cọng sản Ðông Âu tan rã, Trung Cộng lên thay thế làm bá chủ cọng sản đệ tam quốc tế, hằng lăm le dã tâm nuốt trọn vùng Á Châu và toàn cầu. Sự biến chuyển chính trị trên, khiến người Mỹ phải xét lai hay nói đúng hơn là dịp để Mỹ thực thi kế hoạch cuối cùng ‘Bất chiến tự nhiên thành’.Thế là chiến dịch ‘tìm lính Mỹ mất tích tại VN ra đời’, để Bắc Bộ Phủ công khai cho phép Hoa Kỳ quay lại chiến trường cũ vào năm 1985 và hợp thức hóa từ ngày 3-2-1995, qua cái gọi là văn phòng liên lạc ‘Việt-Mỹ’ mở tại Hà Nội. Tóm lại, Hoa Kỳ đã tới nước ta qua các giai đoạn:

 

 

* MỸ ÐẾN VN TÌM THƯƠNG TRƯỜNG:

 

– 1803: một tàu buôn Mỹ tên Fame do thuyền trưởng Jermiar Brigo’s đến VN xin giao thương nhưng vua Gia Long không chấp thuận.

 

– 1819: Hai tàu buôn Mỹ khác tên Franklin và Marmion vào cửa Cần Giờ (Vũng Tàu) và theo sông Ðồng Nai vào tới Gia Ðịnh Thành, tức Sài Gòn ngày nay nhưng vì ngôn ngữ hai nước bất đồng, nên cuối cùng hai chiếc tàu trên lại quay ra biển.

 

– 1833: Một chiến hạm Mỹ tên Peacock do Hạm trưởng Edmund Robert, được Tổng Thống Mỹ Andrew Jackson, đề cử làm sứ thần đến Ðại Nam giao thiệp xin mua bán. Ngày 1-1 năm đó, hai chiếc tàu trên tới hải phận Ðà Nẵng nhưng vì gặp bão, nên không thể vào vịnh để cặp bến. Do trên tàu phải chạy xuống núp bão tại Vũng Rô, Phú Yên và được tiếp xúc với chánh quyền địa phương bằng tiếng Latin, qua sự thông dịch của một một tu sĩ Thiên Chúa Giáo. Theo nữ giao sư Ellen Hammer, một học giả về Ðông Phương, thì trong lần tiếp xúc đó, vua Minh Mạng đã chính thức cho phép người Mỹ vào VN buôn bán giao dịch nhưng không hiểu sao, hai chiếc tàu trên đã không tới Ðà Nẵng, sau khi rời Vũng Rô.

 

* Mỹ VÀO VN ÐỂ CHỐNG NHẬT TRONG THẾ CHIẾN II (1939-1945):

 

Ngày 9-3-1945, Nhật tấn công và giải giới toàn bộ lực lượng quân đội viễn chinh của thực dân Pháp trên bán đảo Ðông Dương. Sau đó quân Nhật từ Hoa Nam tràn xuống chiếm đóng Việt-Miên-Lào. Bán đảo Mã Lai, lúc đó là thuộc địa của Anh Cát Lợi, cũng rơi vào tay quân phiệt Nhật. Từ đó, khắp lãnh thổ VN luôn bị quân Ðông Minh oanh tạc.

 

Ðể thâu lượm các tin túc tình báo cũng như tiếp xúc giải cứu các phi công Ðồng Minh bị Nhật bắn hạ bắt giữ, Anh-Mỹ đã thành lập một cơ quan tình báo đặc biệt gọi là GBT, chuyên hoạt động trên lãnh thổ VN. Nhưng cơ sở này đã bị Nhật khám phá và dẹp tan. Sau ngày 9-3-1945, khi người Nhật chính thức trở thành chủ nhân ông Ðông Dương, Ðể tiếp tục hoạt động tại mặt trận này, cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã cử một nhóm sĩ quan OSS ( tiền thân của CIA), trong đó có Trung Úy Dan Phelan, Thiếu Uý Allison Thomas.. nhảy dù xuống các căn cứ của Việt Minh tại Việt Bắc, để phối hợp chống Nhật. Chính trong giai đoạn này, để mua chuộc, người Mỹ đã cho bộ đội VM rất nhiều vũ khí cá nhân cũng như cộng cộng, đồng thời huấn luyện hướng dẫn họ cách sử dụng các loại súng cối, đại bác, ném lựu đạn, đặt mìn bẫy.. Khi Nhật tuyên bố đầu hàng Ðồng Minh vì bị thả hai trái bom nguyên tử, thì cũng chính những sĩ quan tình báo này, đã giúp cho lực lượng VM cướp được chính quyền trong tay người Việt Quốc Gia, tại Hà Nội ngày 3 tháng 9 năm 1945. Bởi vậy, nên khi toán sĩ quan OSS từ Côn Minh, do Ðại Uý Archimedes APatti cầm đầu tới Hà Nội, đã được Hồ Chí Minh và các lãnh đạo khác trong Bắc Bộ Phủ đón tiếp rất trọng thể.

 

Tại Nam Kỳ cũng có một nhóm OSS gồm 17 người, do Thiếu Tá A.Perter Deway cầm đầu, theo chân quân Anh-Ấn tới đây để giải giới quân Nhật, trú đóng phía bên này vĩ tuyến 16. Nhưng toán sĩ quan tình báo này đã phản đối quân Anh-Ấn, khi thấy họ đã công khai cho thực dân Pháp vào lại Sài Gòn, để tiếp tục đàn áp và bức hại người VN. Do đó, toán sĩ quan OSS này đã bị tướng Anh Gracey trục xuất khỏi Nam Kỳ. Tuy nhiên Thiếu Tá Peter và nhiều sĩ quan OSS khác trong toán, đã bị chết thảm tại Sài Gòn, do sự tấn công lầm của lực lượng VM kháng chiến tại đây.

 

Ngoài ra trong thời gian từ 1945-1954, Chính phủ Mỹ đã cử các viên chức thuộc Bộ Ngoại Giao Kennet London, Abbot Lowmoffat.. do James O’Sullivan làm Tổng Lãnh Sự tại Hà Nội. Nhưng rồi chỉ một thời gian ngắn, khi biết được Hồ Chí Minh hoạt động cho Ðệ Tam Cọng Sản Quốc Tế, nên người Mỹ đã cuốn cờ bỏ chạy khỏi miền Bắc.

 

* MỸ THAM DỰ CUỘC CHIẾN ÐÔNG DƯƠNG 2 (1955-1975):

 

Tháng 12-1949, Trung Công coi như làm chủ hoàn toàn Hoa Lục, khi Lâm Bưu bình định xong đảo Hải Nam và Lư Hán tại Vân Nam cũng xin đầu hàng. Ngày 18-1-1950, Liên Xô lẫn Tàu Công là nước đầu tiên công nhận chế độ cọng sản của VC tại Hà Nội. Ðể trả đũa, Hoa Kỳ cũng công nhận Chính Phủ Quốc Gia VN của Quốc Trưởng Bảo Ðại, đồng thời tiếp tục viện trợ quân sự cho thực dân Pháp, chống lại cọng sản VN, qua bức bình phong Mặt Trận Kháng Chiến Việt Minh.

 

Tháng 6-1950, Thế Chiến III bùng nổ tại bán đảo Triều Tiên, giữa phe cọng sản Trung Cộng, Bắc Cao và Lực lượng Liên Hiệp Quốc. Sau khi chiến cuộc chấm dứt, đệ tam quốc tế coi như chỉ chiếm được nửa nước Cao Ly. Ðể ngăn chận vết dầu loang của chủ nghĩa Mác-Lê-Mao, lan tràn tới các phần đất còn lại của Châu Á, nên Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia Mỹ mới đẻ ra cái gọi là Thuyết Domino vào ngày 1-2-1950 (Theo tài liệu mật NSC 649 vừa được giải mã). Trong chiến lược này, VN được chọn làm quốc sách, như một tiền đồn ngăn chận làn sóng đỏ lúc đó.

 

Thật sự đây chỉ là một cái cớ, mang các danh từ hào nhoáng để che đậy công cuộc mậu dịch song phương và hoà bình, của bọn tư bản lái súng Mỹ (gốc Do Thái), đang lảng vảng sau bức bình phong của Tòa Bạch Ốc, mà bất cứ thời nào từ trước tới nay, đều không thay đổi. Tóm lại vì lợi nhuận của bọn lái buôn và nước Mỹ, nên lúc nào cũng phải kiếm cớ để có chiến tranh khắp nơi. Như vậy Mỹ mới điều hòa nền kinh tế tài chánh để cung ứng nhu cầu quốc gia không bị xáo trộn vì nạn thất nghiệp. Mở rộng chiến tranh Ðông Dương lúc đó, để bọn tài phiệt lái súng, tiêu thu cho hết số vũ khí tồn kho, từ thời thế chiến I và II, đồng thời có dịp bày bán các sản phẩm mới của cuộc chiến hiện đại.

 

Giống như nền kinh tế thị trường hiện tại, chúng ta xài các sản phẩm mang nhiều quốc tịch khác nhau nhưng thật sự gần hết đều là của Mỹ được làm tại ngoại quốc, vì nhân công rẻ và tránh thuế nặng. Tương tự, các sản phẩm chiến tranh thời đó, mang nhiều nhãn hiệu như Liên Xô, Trung Cộng, Do Thái, Ðông Âu.. thật sự đều là hàng Mỹ chính hiệu. Chẳng hạn chiến xa T54, xe vận tải Molotova, Zill.. cứ tưởng là do Nga-Tàu chế, thật sự là hàng của các xe Ford và Christie.. Cũng nhờ chiến tranh VN, công khai gia tăng ngân sách quốc phòng, ngoại viện và bắt dân đóng thuế thêm 10%. Song song các đại công ty Mỹ như Howard Hughes, Lockheed Aircraft, General Dinamic, General Electric.. nhờ hợp tác với Bộ Quốc Phòng, nên hốt được nhiều tỷ đô la. Bởi tất cả viên trợ cho VNCH đều miễn thuế nhập cảng và đổi hàng thành tiền, khấu trừ vào ngân khoản viện trợ hằng năm.

 

Tóm lại nhờ chiến tranh VN, cả nước Mỹ và các đồng minh ăn ké liên hệ như Nhật, Nam Hàn, Ðài Loan ăn nên làm ra. Ðể thu hoạch được mối lợi to lớn trên, Tòa Bạch Ốc phải đẻ ra một cuộc chiến dai dẳng, được các nhà quân sự gọi là ‘đánh nhau có giới hạn’. Cũng vì lý do trên, mà qua cuộc chiến gần 20 năm, quân đội Mỹ tham chiến tại VN, có thể nói là chưa bao giờ được trang bị đầy đủ các phương tiện, cũng như cung ứng quân số để đạt tới chiến thắng. Rồi với lý do không được chọc giận Liên Xô-Trung Cộng, nên chính phủ Mỹ cấm quân đội Hoa Kỳ và QLVNCH, không được vượt vỹ tuyến 17 để tấn công Bắc Việt. Nhờ vậy cọng sản Hà Nội luôn vững tâm có một hậu phương lớn, an toàn, không bao giờ sợ phản tặc đâm sau lưng như tại miền Nam VN.

 

Nên đừng lấy làm lạ, khi thấy gần như suốt cuộc chiến Hoa Kỳ chỉ viện trợ cho VNCH những thứ quân dụng và vũ khí lỗi thời như súng trường Garant M1, đại bác không giật 57 ly, súng cối 60-81 ly, đại bác nòng dài 105-155 ly.. bởi Mỹ chỉ muốn Miền Nam sống thoi thóp mà thôi. Tóm lại chỉ vì bản chất chính trị con buôn, quyền lợi ích kỷ, nên Mỹ đã tìm đủ mọi cách để biến quốc gia của kẻ khác gần như một tiền đồn của mình, để thử nghiệm hiệu quả của các phát minh súng-đạn. Cũng từ đó, hai miền Nam-Bắc VN, đã trở thành vật tế thần, để các siêu cường của hai khối, quảng cáo vũ khí chiến lược và ý thức hệ.

 

Nhưng người Mỹ cũng đã tiêu phí trong cuộc chơi giỡn mặt với tử thần trên, qua số tiền 165 tỷ mỹ kim, tiền xương máu đóng góp của người dân. Về quân đội Hoa Kỳ, có 58.022 người chết, 300.000 bị thương và 2500 mất tích. Riêng VN cả hai miền Nam-Bắc chết 1,9 triệu người và 4,5 triệu người khác bị thương. Cả nước từ biên giới Hoa-Việt tới Cà Mâu-Hà Tiên, trên núi dưới biển, nông thôn cũng như thành thị, nơi nào cũng bị bom đạn của ngoại quốc, do chính người VN hai miền đem về tàn phá tận tuyệt, não nùng.

 

Ðể được đem quân vào VN, người Mỹ đã đồng mưu với các tướng lãnh bản địa “giết chết một tổng thống”. Ðể có lý do chính đáng được người dân và quốc hội Hoa Kỳ tán trợ, Chính phủ Mỷ đưa ra chiến lược hào nhoáng là ‘vào Nam VN để giúp ngăn chận sự xâm lược của cọng sản miền bắc’. Do đó ngày 7-3-1965, theo lệnh của tổng thống Johnson, một sư đoàn TQLC Mỹ gồm 3500 người, đầu tiên đã đến Ðà Nẵng và cứ thế tới cuối năm 1967, quân số Hoa Kỳ tham chiến tại Nam VN đã hơn nửa triệu người.

 

Trong suốt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 này, có một sự kiện đặc biệt nhất: “đó là việc hiện diện đông đảo của bọn ký giả, nhà báo, cơ quan truyền thông..” những đỉnh cao của nền văn minh duy lý da trắng. Nhưng cũng chính bọn này đã táng tận lương tâm của con người, đảo lộn trắng đen, nói càng viết bậy, để hướng dẫn dư luận thế giới trong đó có Mỹ, nhất là vụ VC tổng công kích VNCH vào dịp Tết Mậu Thân 1968. Rõ ràng nhất là lúc đó, Bắc Việt gần như nướng sạch cán binh, bộ đội khắp các chiến trường, kể cả tại Huế và Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Thế nhưng chỉ vì những cái lưỡi tắc kè thay da đổi tiếng, nên VC tuy thua ở Nam VN nhưng lại chiến thắng trong màn ảnh truyền hình khắp các thủ đô Ba Lê, Luân Ðôn, Hoa Thịnh Ðốn..

 

Cũng từ đó, nhân dân Mỹ đã bắt đầu phản đối chiến tranh và đòi rút quân về nước. Nhưng lý do chính cũng vẫn là nền kinh tế, tài chính Mỹ đang có dấu hiệu suy thoái. Sự kiện này đã thực sự bộc phát mạnh vào năm 1971, làm Mỹ phải hai lần phá giá đồng đô la nhưng vẫn không thể nào cứu vãn kịp. Ðây cũng là dịp để cho bọn tư bản lái súng có cớ chuyển tiền bạc công ty ra ngoại quốc đầu tư, làm cho nạn thất nghiệp càng thêm trầm trọng.

 

Ðây là cơ hội ngàn năm một thuở, để bọn điệp viên Liên Xô, Trung Cộng, Việt Cộng.. phối hợp với bọn tư bản Mỹ phản chiến, châm ngòi cho cuộc bạo động khắp nước Mỹ, đòi rút quân về nước. Phong trào trên lan nhanh, từ California, Massachussetts, Newyork.. tới thủ đô Hoa Thịnh Ðốn Tưới thêm xăng vào lửa, là bọn đại tài phiệt Do Thái, những siêu quyền lực cầm trịch trong guồng máy lãnh đạo Tòa Bạch ốc, cũng gây áp lực, bắt chấm dứt chiến tranh VN, để dồn hết ngân sách ngọai viện dành cho Irael tại Trung Ðông. Chính tên ngoại trưởng kiêm cố vấn an ninh quốc gia cho TT. Nixon là Henry Kissinger, người Mỹ gốc Do Thái, đã nhúng tay vào tất cả các âm mưu, trong việc ngụy tạo một hiệp ước ngưng bắn giả mạo vào năm 1973, để bán đứng VNCH cho khối cọng sản quốc tế, đổi lấy quyền lợi cho Do Thái tại Trung Ðông.

 

Hậu quả của phong trào phản chiến trên, khiến cho giới dân cử Mỹ vì muốn kiếm phiếu trong lần sau, nên phải mị dân bằng cách ban hành nhiều đạo luật quái gở, hầu hết đều làm lợi cho cọng sản mà điển hình nhất là “War Power Art “ ký năm 1973, gần như trói tay tống thống và hành pháp Mỹ. Vì vậy cọng sản Bắc Việt đã công khai xé bỏ bản hiệp ước vừa mới ký tại Ba Lê chưa ráo mực, xua quân cưỡng chiếm miền Nam.

 

Tháng 5-1975, Henry Winston, chủ tịch đãng cọng sản Mỹ đến thăm Hà Nội, đã công khai tuyên bố:’ chiến thắng của CSVN cũng là chiến thắng của đãng CS.Hoa Kỳ ‘.Còn chủ tịch bù nhìn của Mặt Trận Ma-Nguyễn Hữu Thọ tại Mạc Tư Khoa thì nói:’ chiến thắng của Bắc Việt là do công lao của Mỹ, đã viện trợ chính trị và cổ võ cho họ ‘.Nhưng mai mỉa và nhức nhối tận cùng là lời của Lê Ðức Thọ:’ Năm 1954 CSVN thắng Pháp tại Ba Lê, còn năm 1975 CSVN lại thắng VNCH tại Hoa Thịnh Ðố

 

2 – MỸ BỎ VIỆT NAM:

 

Mỹ tới VN chỉ lợi ích và chiến lược. Bởi vậy sau khi đã bắt tay được Trung Cộng vào ngày 21-2-1972, song song với việc đã chế tạo thành công tàu ngầm nguyên tử cùng hỏa tiễn liên lục địa Polaris, thì cái ý nghĩa sử dụng Nam Việt Nam, để làm tiền đồn ngăn chận làn sóng đó đã không còn tồn tại. Thêm vào đó là sự ngu xuẩn của Kissinger khi quá tin vào lời hứa cuội của Liên Xô tại hội nghị hòa hoãn Helsinki-Phần Lan, là sẽ kềm chế VC. Bởi vậy để thưởng cộng trước, Mỹ qua đề nghị của Kissinger, cho Liên Xô được hưởng ưu tiên tối huệ quốc.

 

Cũng vì vậy nên từ đó, lúc nào cặp Nixon-Kissinger cũng coi VNCH như là một thuộc địa của mình không hơn không kém. Ngoài việc nhiều lần làm mất mặt chính quyền miền Nam trên trường quốc tế, Mỹ cón sử dụng viện trợ như là một thứ áp lực gông cùm, bắt ép một quốc gia đang có chủ quyền, dân chúng và lãnh thổ, phải ngồi chung trong bàn hội nghị với công cụ của cọng sản Bắc Việt, qua danh xưng MTGPMN, mà Mỹ đã biết rất rõ ràng. Cuối cùng, cũng dùng viện trợ bắt buộc VNCH phải ký hiệp định ngưng bắn vào năm 1973, trong đó Mỹ công nhận MTGPMN như một chính quyền thứ hai cũng như cho bộ đội Bắc Việt ở lại miền Nam, làm cho QLVNCH phải bó tay, để cho cọng sản đệ tam tiếp tục tấn công cưỡng chiếm miền Nam.

 

Sau ngày 30-4-1975, tướng Alexander Haig, một cựu bộ trưởng thời TT.Nixon đã viết: ‘chúng tôi gạt Tổng Thống VNCH là Nguyễn Văn Thiệu, ký vào bản hiệp ước ngưng bắn năm 1973 tai Ba Lê, bằng cách gởi nhiều bức thơ viết tay của Nixon. Theo nội dung những bức thơ đó, thi Nixon nhân danh nước Mỹ, cam kết sẽ sử dụng quân đội và pháo đài bay B52 trở lại trên chiến trường, nếu Bắc Việt tiếp tục xâm lăng VNCH. Ngoài ra Nixon còn to miệng hứa là sẽ tiếp tục quân viện cho miền nam, trên nguyên tắc mà hai nước đã ký kết từ trước ‘1 đổi 1’. Nhưng than ôi tất cả chỉ là sự lừa bịp của một siêu cường đang lãnh đạo khối tự do lúc đó, với một đồng minh từng sánh vai sống chết với mình, trong lúc đang hấp hối vì thù trong giặc ngoài. Cho nên Mỹ đã phủi tay, khi đem được tù binh về nước, giúp TT Nixon đắc cử thêm một nhiệm kỳ (1971-1975).

 

Bởi vậy vào ngày 21-1-1973, tại Ba Lê trong khi các nguyên thủ trên thế giới liên hệ, đang nổ rượu Champagne nói là để ăn mừng vì hòa bình tại VN. Khôi hài hơn hết, là sự việc hai tên đại bịp Kissinger và Lê Ðức Tho được cái gọi là Uỷ Ban giải Nobel Hòa Bình tại Nauy, phát giải thưởng. Thì cũng lúc đó, cọng sản Bắc Việt đã xử dụng chính bộ đội mà Mỹ cho phép ở lại tại lãnh thổ Nam VN, tấn công đồng loạt các cứ điểm VNCH tại Cửa Việt (Quảng Trị), Kon Tum, Kiến Tường.. Nhưng quan trọng hơn hết là tại Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Bình Thuận và Trại Biệt Ðộng Quân Biên Phòng Tống Lê Chân (Bình Long)..

 

Tiếp theo khi biết chắc Mỹ đã phủi tay thật sự không bao giờ can thiệp vào chiến tranh VN, nên tháng 12-1974 Bắc Việt xua đại quân tấn chiếm quận Thường Ðức (Quảng Nam), Phước Long, Ban Mê Thuột và toàn thể Miền Nam vào ngày 30-4-1975.

 

3- MỸ CHẠY KHỎI VN TRONG ÐÊM TỐI, TRÊN MÁI NHÀ:

 

Từ khi có ý định phủi tay bỏ Nam VN, nên cuối năm 1974 tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, đã bắt đầu lập bản dự thảo kế hoạch rút số viên chức còn lại, cũng như di tản những thành phần bản xứ có liên hệ với họ. Ðó là chiến dịch ‘ Talon Vice ‘, sau được đổi thành ‘ Frequent Wind ‘.Theo sử liệu bật mí mới đây, sở dĩ kế hoạch trên vào phút chót trở thành ‘ đầu gà đít vịt ‘, là do sự bất đồng ý kiến giữa đại sứ Mỹ Martin và phái bộ quân sự Hoa Kỳ (Dao). Nhưng đây cũng chỉ là cái cớ, để phần nào làm nhẹ bớt tội tắc trách của ông đại sứ. Cũng theo tài liệu, sự thất bại còn có rất nhiều lý do khác, chẳng hạn do tướng Smith trưởng cơ quan Dao, đã tiết lộ kế hoạch chạy của Mỹ, trong bữa tiệc do Tổng Cục Tiếp Vận tổ chức trong đêm giáng sinh 24-12-1974.

 

Tin này lập tức được loan truyền rộng rãi, nên thay vì Mỹ di tản các thành phần quan trọng có nguy hai tới tánh mạng khi VC vào, lại chỉ vớt toàn bọn nhà giàu, Tàu Chợ-Lớn, me Mẽo, bọn cò mồi phá thối chính quyền VNCH. và đặc biệt là bọn tướng-tá ăn không ngồi chơi xơi nước tại các cơ quan đầu não trung ương về quân sự cũng như hành chánh. Bọn này đa số đều giàu có về tiền bạc cũng như quyền thế và phe cánh Mỹ, nên ra đi ngoài gia đình nội ngoại ba đời, còn có cả con sen thằng ở. Sau rốt là do đại sứ Martin tới giờ phút chót, vẫn còn ngu xuẩn cả tin vào sự hẹn hứa của Bắc Việt, nên nuôi ảo vọng thương thuyết, khi chấp nhận điều kiện ‘ đổi ngựa ‘ hết Nguyễn Văn Thiệu, tới Trần Văn Hương và cuối cùng là Dương Văn Minh. Nhưng kết cuộc, Mỹ đã bị VC bịp xã láng, nên đã phải bỏ chạy nhục nhã trong đêm tối 29-4-1975, khắp các mái nhà Sài Gòn, đến nỗi quên cả cuốn và vác cờ theo. Thật là một trò hề vô cùng sĩ nhục của siêu cường Hoa Kỳ, lãnh tụ của phe thế giới tự do.

 

Theo bản dự thảo ban đầu, chiến dịch di tản gồm có bốn giải pháp, tùy theo hoàn cảnh để thi hành như 1- Dùng hàng không dân sự để di tản người tại phi trường Tân Sơn Nhất. 2- Sử dụng các vận tải cơ C123,130 và C5 để bốc người tại Sài Gòn cũng như các tỉnh lân cận. 3- Sử dụng các loại thương thuyền có sẵn tại bến Bạch Ðằng. 4- Dùng trực thăng bốc người từ Sài Gòn, đưa ra các chiến hạm.

 

Sau khi quân đoàn I và II tan rã ngày 1-4-1975, cơ quan Dao đã cho thành lập một cơ quan điều hợp di tàn, gọi tắt là DCC tại Tân Sơn Nhất và giải pháp (4) dùng trực thăng bốc người được chọn, nếu phi trường Tân Sơn Nhất bất khiển dụng.

 

Ngày 3-4-1975, Dao lại thành lập thêm Toán Thiết Kế đặc biệt, có nhiệm vụ thanh lọc, để xác nhận tổng số người VN cần di tản và tới ngày 7-4-1975, có 70.000 người được lên danh sách. Ngay sau đó, Dao đã tổ chức một đoàn xe Bus, chuyên chở họ từ tư gia vào phi trường TSN. Vì hầu hết sân thượng tại Sài-Gòn, Chợ-Lớn và Gia-Ðịng, không đủ tiêu chuẩn để cho các loại trực thăng H46 và H53 đáp, nên Dao phải trưng dụng tất cả các trực thăng nhỏ của hãng Air American do CIA thuê mướn, bốc người khắp nơi về Dao, sau đó trực thăng lớn mới chở ho ra chiến hạm.

 

Ngày 9-4-1975, Bắc Việt xua đại quân tấn công Xuân Lộc. Cơn phẫn nộ của QLVNCH và dân chúng được bộc phát tại đây. Sư Ðoàn 18 BB, Lữ Ðoàn 1 Dù, Thiết đoàn 5 kỵ binh, Biệt Ðộng Quân, Ðịa Phương Quân + Nghĩa Quân Long Khánh, chẳng những đã chận đứng cộng quân tại chiến trường mà còn tiệu diệt cả vạn quân xâm lăng phương bắc, khiến cho Hà Nội lại la làng là Mỹ bội tín đem bom nguyên tử vào thả tại VN.

 

Do tình hình chiến trường biến động khắp nơi báo hiệu nguy cơ miền Nam sắp mất, nên Dao đã mướn nhà thầu sửa chữa các sân thượng tại đây, đồng thời yêu cầu toà đại sứ cho đốn cây cổ thụ trước sân, để làm bãi đáp khi hữu sự nhưng đã bị Martin phản đối và bác bỏ.

 

Ngày 16-4-1975 tướng Home Smith, chỉ huy trưởng Dao, ra lệnh đóng cửa các PX, đồng thời bắt buộc các quân nhân không cần thiết và tất cả nhân viên dân chính cùng gia đình, đều phải hồi hương.

 

Ngày 24-4-1975 thời tổng thống Trần văn Hương, do tình hình chiến sự bùng nổ dữ dội lhắp nơi, nên đại sứ Martin mới cho thi hành giải pháp (3) trong chiến dịch Frequeent Wind, sử dụng tất cả các thương thuyền trống, sau khi đã giở hàng để di tản. Trong lúc đó, vì tuân thủ theo lệnh của chính phủ VNCH, nên hầu hết các máy bay quân sự của Mỹ khi rời Sài Gòn đều trống không, dù có rất nhiều người đang sắp hàng ngày lại ngày, để chờ phương tiện xuất ngoại.

 

Ngoài việc di tản quân nhân, viên chức tòa đại sứ rời VN, ngày 4-4-1975, Dao lại cho thực hiện chiến dịch ‘Baby Lift’, di tản 250 em mồ côi VN tại các cô nhi viện sang Hoa Kỳ, bằng vận tải cơ khổng lồ C5A-Galaxy. Tháp tùng trong chuyến đi này, còn có 37 nữ thơ ký và phân tách viên của Dao, với nhiệm vụ giúp đỡ và săn sóc các em trong suốt cuộc hành trình. Nhưng than ôi công tác đầy nhân đạo này, đã bị bàn tay bí mật nào đó phá vỡ ngay. Bởi vậy máy bay vừa mới cất cánh, thì đã rớt xuống ngay tại đầu phi đạo tan tành. Rốt cục chỉ còn sống sót 175 người. Tới nay sự việc trên vẫn chưa được soi sáng, nên đâu biết ai là thủ phạm đã gây nên tai nạn thương tâm cho các em bé mồ côi khốn khổ trên.

 

Tại Subic Bay-Phi Luật Tân ngày 17-4-1975, lực lượng đặc nhiệm 76 của Hải quân Hoa Kỳ vừa mới cặp bến để tu bổ và sửa chữa tàu bè, sau một thời gian dài đã tham dự cuộc hành quân Eagle tại Ấn Ðộ Dương, thì lại nhận được lệnh rời bến tới chờ lệnh tại Đông Hải, ngoài hải phận Nam VN.

 

Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, tình hình chiến sự tại miền Nam vô cùng sôi động. Khắp nơi, những đơn vị còn lại của QLVNCH gồm Sư đoàn Dù, Sư đoàn TQLC, các Liên Ðoàn Kỵ Binh, Pháo Binh, Lực Lượng III Xung Kích, Sư đoàn 18, 5, 25, 22, các Sinh viên sĩ quan Trường Võ Bị QG.Ðà Lạt, Chiến Tranh Chính Trị, Thủ Ðức, Học Viện Sĩ quan Cảnh sát, khóa sinh HSQ-Binh sĩ quân dịch các Trung tâm Huấn luyện Vạn Kiếp, Quang Trung, Lực lượng Ðịa Phương Quâm-Nghĩa Quân, Trung Đoàn Bình Thuận, Cảnh sát Dã chiến, Cán Bộ Xây Dựng Nông thôn cả Nhân Dân Tự vệ.. phối họp với Không quân, Hải quân và Quân đoàn IV, gần như tử chiến với mấy trăm ngàn cán binh-bộ đội cọng sản Bắc Việt, từng giây phút, suốt đêm ngày.. trong nổi đoạn trường máu lệ. Tất cả đã lấy xương thịt và thân xác, thay súng đạn ngăn chận xe tăng, đại pháo và biển giặc.. vì người Mỹ đã cúp hết quân viện từ ngày 25-4-1975.

 

Ðêm 28-4-1975 Nguyễn Thành Trung hay Ðinh Thành Trung, con rớt của một cán bộ tập kết ở Bến Tre, nằm vùng trong không quân VNCH. Thi hành theo lệnh của Văn Tiến Dũng, tổng tham mưu trưởng quân đội VC, lái A37 giội bom phi trường Tân Sơn Nhất. Theo Lê văn Trí, tư lệnh KQ cọng sản miền bắc, thì VC đã dùng các máy bay của QLVNCH đã bỏ lại tại các phi trường Ðà Nẵng, Phù Cát để oanh tạc Sài Gòn. Sáng 28-4-1975, sáu chiếc A37 được chuyển vào sân bay Thanh Sơn (Phan Rang) do Trung làm phi đội trưởng, hợp với các phi công Bắc Việt gồm Từ Ðể, Nguyễn văn Lục, Hoàng Mai Vượng, Hàn Văn Quảng và một tên phi công phản tặc khác của VNCH là Trần văn On. Vì các máy bay trên không mở đèn, hơn nữa lực lượng phòng vệ ở dưới đất tưởng là bạn, nên chúng mới toàn mạng. Vụ oanh tạc trên đã làm hư hại 3 chiếc Hỏa Long AC119, vài chiếc C47 nhưng quan trọng nhất là đã tạo tình trạng hỗn loạn tại phi trường, đang có nhiều người đợi máy bay di tản. Ngoài ra còn có nhiều đoạn phi đạo bị bom và đạn pháo kích làm hư hỏng, không còn sử dụng được. Trước tình trạng hỗn loạn này, tướng Smith ra lệnh giới nghiêm Dao 24/24, trong khi đó tại tòa đại sứ Martin vẫn bất động.

 

Sau này qua các tài liệu báo chí, đọc được nhiều chuyện vui cười ra nước mắt, liên quan tới sự người Mỹ tiếp tục quân viện cho VNCH, theo tinh thần hiệp định Ba Lê 1975 và những lời hứa của Nixon, từ các tho riêng viết tay. Thật sự để có lý do hạ cánh những vận tải cơ khổng lồ C5, người Mỹ giả bộ chở tới một vài khẩu súng đại bác 105 ly thời Thế chiến 1, ít trăm bộ nón sắt cháo lòng không giống ai. Tàn nhẫn nhất trong số những thứ rác phế thải này, có nhiều thùng băng cá nhân đã xử dụng. Biết Hoa Kỳ đã tận tuyệt rồi nhưng chính phủ VNCH vẫn giả đò tương kế tựu kế, họp báo đăng tin, để phần nào giữ lại chút niềm tin cho người lính đang xả thân nơi chiến trường, trong giờ thứ 25 đối mặt với thù trong giặc ngoài. Riêng Mỹ thì mục đích đến là để chuyển tải tất cả hồ sơ mật và những vật dụng máy móc điện tử quý giá về nước.

 

Lạ lùng nhất là lúc 3 giờ sáng ngày 29-4-1975, tại Dao có 3 chiếc vận tải cơ C130, thường trực chuyển người ra chiếm hạm. Nhưng không biết vì lẽ gì, lại chở từ biển vào Sài Gòn ba quả bom con heo tiểu nguyên tử (Blue 82 Daisy Cutter), loại bom 15.000 Lbs, mà QLVNCH đã sử dụng tại mặt trận Xuân Lộc-Long Khánh vừa qua. Khôi hài hơn là trong lúc các chuyên viên Mỹ-Việt đang hì hục tháo gỡ đem bom vào kho, thì một phi công Hoa Kỳ lại bạch thoại trên vô tuyến, khiến cho CS Bắc Việt bắt được tần số và nã ngay hỏa tiễn 122 ly vào phi trường, làm cháy một vận tải cơ C130 đang bốc người. Thế là Dao chấm dứt kế hoạch di tản bằng máy bay lớn ra hạm, vì phi trường đã bất khiển dụng.

 

Trong lúc những lãnh đạo của Miền Nam “đang trầm kha trong ảo vọng thương thuyết hòa hợp để kết thúc cuộc chiến”, thì đúng nửa đêm 29-4-1975 cũng là giờ mà cọng sản đệ tam quốc tế Hà Nội, chọn là giờ ‘G’ ngày ‘N’ tổng tấn công dứt điểm VNCH. Sài Gòn đã rối loạn vì hơn mấy chục sư đoàn cọng sản Bắc Việt đã áp sát thủ đô. Một số đại pháo được tập trung nã vào các khu vực đông dân cư trong nội thành. Phần khác là do đám quan quyền, ngày thường ngồi trên ăn đủ, cùng với bọn nhà giàu, me Mẽo.. tới tấp ra đi, khiến cho lòng người càng thêm tơi tả. Tuy rằng trung ương không còn đại bàng nhưng khắp bốn hướng, Quân Lực VNCH vẫn chiến đấu dũng mãnh, gần như lấy máu xương của chính mình để ngăn cản bước tiến của giặc. Lữ đoàn 4 Nhảy Dù, Sư Ðoàn TQLC, Sư đoàn 18 BB, Lực lượng III Xung Kích, Liên đoàn 4 Biệt Ðộng Quân, Sư đoàn 22 BB, Giang Ðoàn 54 Tuần Thám, Lực Lượng Ðịa Phương Quân + Nghĩa Quân.. và đặc biệt là Chiến Ðoàn 3, thuộc Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, từ ngày 26-4-1975, đã được lệnh về bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.

 

Nhưng giữa lúc người lính bộ đang lội trong biển máu thù, thì trên trời gần hết những phi công anh hùng của QLVNCH đã ngoảnh mặt phủi tay ra đi không trở lại, hoặc bay về đất Thái hay hướng thẳng biển đông. Khiến cho phi trường Tân Sơn Nhất thêm hiu quạnh thảm thê với xác người nằm bất động, lẫn lộn với quân trang quân dụng, cơ phận máy bay, vũ khí và những lính quèn hèn mọn, giờ phút cuối vẫn ở lại tử thủ với phi trường.

 

Nhưng không phải ai cũng tham sống sợ chết, chỉ muốn hưởng vinh hoa phú quý mà người Mỹ hứa hẹn. Vẫn còn vài chiếc Hoả Long AC119 K, cùng vớo hai khu trục A1 Skyraider, đã không ngừng lên xuống, nã đạn pháo, thả hỏa châu, soi sáng giúp quân bạn đang chiến đấu dưới đất. Anh hùng nhất là Trung Úy Phi Công Nguyễn Văn Thành, xuất thân từ Thiếu Sinh Quân. Ông đã lái AC119 bắn phá những vị trí pháo của VC quanh phi trường, nhờ vậy nhiều người trong số này có tướng Nguyễn Cao Kỳ, cựu tư lệnh KQ, cựu chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương, cựu phó tổng thống VNCH.. mới bay được trực thăng riêng từ tư gia ở Tân Sơn Nhất, ra chiến hạm đi Mỹ. Thương thay người hiền không bao giờ sống lâu, nên Trung Uý Thành đã gãy cánh vào lúc 6 giờ 46 phút, rạng sáng ngày 29-4-1975, khi chíếc hỏa long của ông bị một hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 chém đứt cánh may bay và bốc cháy trên bầu trời.

 

9 giờ 30 sáng ngày 29-4-1975, Sài Gòn đã hỗn loạn khắp nơi. Do trên tướng Smith yêu cầu đại sứ Martin cho thi hành giải pháp ‘4’ trong chiến dịch di tản nhưng đã bị từ chối. Nguyên do vì đại sứ Mỹ lúc đó vẫn còn ngây thơ tin rằng “tổng thống VNCH Dương văn Minh có khả năng hoà hợp, hòa giải với VC” để vãn hồi hòa bình cho VN. Cùng ngày, từ thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, Kissinger đã gọi điện khẩn cấp sang Sài Gòn, ra lệnh cho đại sứ Martin phải di tản gấp. Từ đó, Martin mới cho lệnh đốn cây đa cổ thụ trước sân toà đại sứ vào lúc 11 giờ 01 phút, để làm bãi đáp cho trực thăng. Ðây cũng là thời gian, Martin gợi ý “nhờ TT. Dương văn Minh giả bộ đuổi Mỹ trên đài phát thanh Sài Gòn”. Có như vậy siêu cường Hoa Kỳ mới chạy khỏi VN trong danh dự, đồng thời giúp TT Minh có chính nghĩa.

 

Nhờ bài bản xuất sắc, diễn viên ăn khớp, Martin đã cứu nước Mỹ phần nào bớt mất mặt trước đồng minh thuộc phe thế giới tự do, cũng như kẻ thù Liên Xô-Trung Cộng. Nhưng đồng thời Martin chính là người đã phá hỏng kế hoạch di tản, vì lúc chịu thi hành thì trời đã tối nên các tài xế xe bus đều nghi việc, khiến cho nhiều người có tên trong danh sách di tản không được đón. Ðể cứu vãn tình thế nguy cấp tồi tệ trên, tướng Smith đã cho các loại trực thăng nhỏ của hãng Air American đi bốc người thế xe bus.. nhưng đã quá trễ.

 

Ba mươi bảy năm về trước, người Sài Gòn làm sao quên được cảnh tượng hai ngày 29 và 30-4-1975, nếu có dịp đi ngang qua tòa đại sứ Hoa kỳ, kế toà đại sứ Pháp và nhà thờ Tin Lành, nằm trong chu vi các đường Hồng Thập Tự, Hai Bà Trưng và đại lộ Thống Nhất. Có thể gọi được là một biển người, đã tụ tập trước hai cánh cổng sắt vô tri của tòa đại sứ. Lúc đó người nào giơ hai tay lên cao, trong đó ngoài các giấy tờ còn có những nắm đô la dầy cộm, với những tiếng gào thét, van nài nghe thật là bi thiết não nuột, trước những cặp mắt gần như lạc thần lạnh lẽo của lính thủy quân lục chiến Mỹ. Ai cũng lăm lăm tay súng có gắn lưỡi lê, làm như đang lăm le sẵn sàng phanh thây xé xác bất cứ ai, muốn xé rào vượt cổng.

 

Cùng lúc quang cảnh phía bên trong khuông viên của tòa đại sứ cũng đâu có khác gì bên ngoài. Sóng người đang đùn ép, xô lấn, cấu xé với nhau để tới cho được chân tường, dẫn vào cầu thang lên sân thượng, nơi đoàn trực thăng dùng làm bãi đáp lên xuống, để bốc người ra chiến hạm. Màn đêm lúc đó như được Thượng Ðế ban thêm ân huệ, nên cứ kéo dài hơn, để cho những kẻ chờ đợi nuôi chút hy vọng mỏng manh trong cơn tuyệt vọng. Tóm lại đến giờ phút hỗn loạn đó, thì không ai còn cần chú ý làm gì tới danh sách nửa. Bốc người tại chỗ, có nghĩa là ai mạnh chen được tới trước thì đi, khiến cho hằng vạn người từng giúp Mỹ rất đắc lực như thơ ký, thông dịch viên, nhân viên tình báo, cảnh sát chìm.. cứ ngóng cổ chờ di tản, rốt cục sáng ra mới biết Mỹ đã đi hết rồi.

 

Ðể thi hành chiến dịch di tản bằng trực thăng, tướng tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến Mỹ là Carey từ chiến hạm bay vào tòa đại sứ lúc 13 giờ 15 ‘ chiều 29-4-1975 và hạ cánh tại Dao. Cùng lúc có một Toán Không Lưu do thiếu tá KQ Dave Cox chỉ huy. Họ dọn dẹp sân thượng và chỉ dẫn đoàn trực thăng từ biển vào bốc người. Trong lúc đó súng cối và đại bác của VC quanh Sài Gòn nổ tới tắp.

 

15 giờ 06 phút chiều 29-4-1975, một đoàn 12 chiếc trực thăng Mỹ, chở TQLC do trung tá J.L Bowltan chỉ huy, thuộc Lực Lượng Ðặc Nhiệm 76 tới bố trí quanh Dao để giữ an ninh. Ðoàn trực thăng lên xuống bốc người không ngớt, mỗi chiếc chở một lần từ 50-60 người.

 

Nhưng cuộc di tản đã gặp trở ngại vì bãi đáp trực thăng trúng đạn pháo kích của VC bốc cháy. Trong lúc sự liên lạc giữa toán không lưu và các phi công cũng bị trục trặc vì máy truyền tin bị hỏng, còn trung tâm tiếp vận đài tại Sài Gòn hoàn toàn tê liệt.

 

Những giờ phút cuối, để giải quyết số người còn ứ đọng, Mỹ phải dùng các loại trực thăng lớn CH6 và H53 đáp ngay tại bãi đậu xe trước tòa đại sứ. Song song với trực thăng Mỹ, trực thăng của KQ/VNCH cũng bốc người ra đi từng đoàn. Thành phố đã bị cúp điện hoàn toàn từ 6 giờ 30 tối 29-4-1975. Khắp nơi trời đất tối thui, dân đen thì run rẩy núp kín trong nhà để giữ mạng, phần lính tráng còn lại, từ quan tới thuộc cấp, ai cũng cố chong con mắt chờ sáng trong các giao thông hào, đợi phép lạ mà tổng thống Dương văn Minh đã hứa là sẽ tới vào sáng ngày 30-4-1975.

 

Sài Gòn đã chết từ đó, chỉ còn có tiếng quạt của các loại trực thăng gầm hét đinh tai điếc óc nơi khoảng không gian mà Mỹ còn làm chủ, nhờ sự bảo vệ của QL/VNCH trong giờ thứ 25 dưới đất. Ðây cũng là những lời thóa mạ cuối cùng của người Mỹ trước khi về nước, để lại nghìn đời trên xác chết chưa chôn của miền Nam VN trong thế kỷ XX.

 

Cũng lúc đó, nơi các nẻo đường vắng ngắt dẫn về thương cảng, bến tàu Sài Gòn, từng chặp từng chặp lai xao động bởi tiếng máy nổ ròn của đủ loại xe dân, lính.. xen lẫn đâu đó là các tràng súng ngắn. Lúc này bọn sĩ quan đào ngũ, bọn nhà giàu bất lương, bọn văn nghệ sĩ cà chớn một thời phá nát miền Nam.. cũng ôm đầu chạy trối chết, tới các bến tàu, để tìm đường vượt thoát cọng sản, trên các chiến hạm Hải quân và Thương thuyền đang hối hả nhổ neo ra khơi. Súng nổ, đạn cối rơi, hỏa tiễn xuyên phá, tiếng trực thăng gào thét.. như những giọt nước mắt trước cơn mưa thống hận VN, ba mươi bảy năm qua cũng vẫn là những hình ảnh và âm thanh, mà người Sài Gòn đã cảm nhận trước vài giờ, khi toàn thể non sông Hồng Lạc bị đắm chìm trong vũng bùn ô uế của xã nghĩa thiên đàng.

 

Ðúng 9 giờ tối đêm 29-1-975 cuộc di tản tại Dao kết thúc. Người Mỹ vội cho thiêu hủy toàn bộ những gì còn lại trong toà nhà này, mà một thời được coi như một tòa tiểu bạch ốc ở phương đông. Chiếc trực thăng cuối cùng cất cánh lúc 12 giờ đêm, bỏ lại đằng sau tòa nhà trong biển lửa.

 

Riêng tại tòa đại sứ Mỹ, sự di tản đã gặp rất nhiều khó khăn vì đèn không đủ soi sáng hiện trường, còn bãi đáp thì quá nhỏ không thích hợp cho các loại trực thăng lớn, Tuy nhiên việc bốc người vẫn được tiếp tục, từ 11 giờ đêm 29-4-1975 cho tới 3 giờ sáng ngày 30-4-1975. Sự liên lạc bằng vô tuyến giữa Sài Gòn và Hoa thịnh Ðốn cũng chấm dứt lúc 1 giờ 06 phút, khi trạm liên lạc vệ tinh tại Dao đã bị phá hủy. Ðể nối liên lạc giữa Mỹ và toà đại sứ, Không quân Hoa Kỳ phải thiết lập một trạm liên viễn thông vệ tinh trên chiếc C130, nhưng vẫn không mấy hiệu quả.

 

3 giờ sáng ngày 30-4-1975, bộ ngoại giao Mỹ ra lệnh cho tòa đại sứ Sài Gòn chấm dứt di tản nhưng Martin không chịu thi hành, vì lúc đó tại chỗ vẫn còn hơn 12.000 người chờ bốc ra chiến hạm. Tới 4 giờ 56’ sàng, chính Tổng thống Ford ra lệnh bằng điện thoại, bắt buộc ông đại sứ phải rời VN. Do không còn cách nào lựa chọn, Martin đành phải bỏ lại 420 người đang đợi, trong số người này có cả nhân viên của toà đại sứ Nam Hàn. Martin ra đi đơn độc với con chó nhỏ tên Nitnoy, trên chiếc trực thăng CH46, do Ðại Uý Thủy Quân Lục Chiến tên G.Berry lái.

 

Tù phút đó, chỉ còn lại toán lính TQLC Mỹ giữ an ninh tòa đại sứ. Họ rút hết vào bên trong tòa nhà, đóng cửa sắt và lên trên sân thượng đợi. Ðúng 7 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975, trực thăng ngoài biển bay vào đón họ, chấm dứt sự hiện hữu lần thứ ba của người Mỹ trên nước VN, tính tròn 21 năm, từ lúc tướng Edward Landale của CIA đặt chân tới Sài Gòn. Tình đồng minh, đồng hướng và chiến hữu giữa VNCH cùng Hoa Kỳ, cũng chấm dứt từ đó.

 

Theo tài liệu được Mỹ công bố, thì tòa đại sứ và Dao ngày 29 rạng 30-4-1975 chỉ di tản được 7014 người, phần lớn không có tên trong danh sách được lập lúc ban đầu. Ðể hoàn thành công tác trên, người Mỹ đã xử dung trực thăng của Sư đoàn 7 Không quân và Hạm Ðội 7 tại Thái Bình Dương. Suốt thời gian chiến dịch, chỉ có một A6 bị mất tích, một trực thăng AH1J. Cobra rớt xuống biển và 2 lính TQLC Mỹ bị tử thương khi VC pháo kích vào Dao tại phi trường Tân Sơn Nhất.

 

Tuy người Mỹ đã chính thức rời Sài Gòn vào lúc 7 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975 nhưng trọn ngày đó cho tới hôm sau 1-5-1975, nhiều trực thăng của Không quân VNCH khắp nơi bay tới Hàng Không Mẫu Hạm Midway, đang bỏ neo ngoài khơi Vũng Tàu để xin đáp. Vì có quá nhiều người, nên Mỹ đã phải xô nhiều trực thăng xuống biển, để làm bãi đáp cho các trực thăng tị nạn. Dù việc làm trên có thiệt hại hằng triệu mỹ kim nhưng cũng đã cứu vớt đươc nhiều chiến binh trong giờ phút cuối cùng, không còn một lựa chọn nào khác hơn, trong khi nước đã mất.

 

Ba mươi bảy năm trước hay bây giờ, người Mỹ cũng chỉ nghĩ đến quyền lợi của quốc gia mình mà thôi. Bởi vậy muốn đem quân vào VN, người Mỹ phải giết một Tổng thống dân cử của bản xứ. Rồi để rút quân an toàn về nước, khi đã đạt xong mục đích chiến lược kinh tế của mình, Mỹ lại dùng áp lực quân viện, để bắt buộc đồng minh của mình, ký vào một hiệp ước giả mạo phi luân. Cuối cùng dùng nó để bán đứng quốc gia VN, chôn vùi tương lai của dân tộc anh hùng trong vòng nô lệ của cọng sản đệ tam quốc tế., suốt thời gian từ đó tới bây giờ. Tất cả đúng như lời Sir R.Thompson đã viết năm 1989 trong tác phẩm ‘Make for the hill’; đại ý ông nói rằng, sự sống của miền Nam VN đã bị bán đứng, vì cảnh cấu xé của nước Mỹ. Riêng Nixon, nhân vật chính đã cùng Kissinger đạo diễn tấn thảm kịch VN hôm nay, cũng đã viết những lời sám hối trong ‘No More VietNam’. Ông viết rằng, tôi đã nhìn thấy những vấn đề nan giải của hiệp định Ba Lê, nhất là sự thỏa hiệp, cho phép bộ đội Bắc Việt công khai ở lại và xâm lăng miền Nam. Nhưng đau đớn nhất, có lẽ là lời phát biểu của M. Gauvin, nguyên Ủy Viên Giám Sát Quốc Tế (ISCC) tại VN. Ngay khi thấy CS Hà Nội ngang nhiên xé bỏ hiệp định ngưng bắn mà chúng vừa ký kết chưa ráo mực, tấn công xâm lăng VNCH, bất chấp cả Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc. Vì vậy ông đã viết bài đăng trên tờ The Times số 59362 ngày 5-4-1975 rằng, sự thất bại của VNCH đã bắt nguồn từ hiệp định Ba Lê, vì nó chẳng bao giờ phản ảnh được ý muốn và nguyện vọng của dân-nước VNCH.

 

Một thập niên sau ngày Mỹ bỏ chạy khỏi Sài Gòn trong đêm tối trên mái nhà, do những biến chuyển chính trị thế giới, quan trọng nhất là sự hòa hoãn giữa Nga-Hoa cũng như sự liên hệ của Mỹ và Trung Cộng có chiều hướng thay đổi. Ðể chiếm phần ưu tiên, người Mỹ lại tìm cách mon men trở lại Ðông Dương lần thứ 4 vào tháng 4-1985. Bởi vậy một phái đoàn cao cấp của Mỹ, do Richard Armitage cầm đầu, cùng với phụ tá ngoại trưởng Mỹ là Paul Wolfon Witz (đặc trách Ðông Á và Thái Bình Dương ), lần đầu tới Hà Nội, với chiêu bài ‘tìm lính Mỹ mất tích và hài cốt quân Hoa Kỳ còn tại VN’. Sự kiện giằng co úp mở giữa hai nước, cho tới khi phái đoàn nghiên cứu Mỹ do cựu bộ trưởng quốc phòng Mc.Namara, sau khi thăm viếng Hoa Lục về, đã tiết lộ âm mưu Trung Cộng đang có dã tâm muốn trở thành bá chủ Á Châu và Thái Bình Dương. Vì thế Hoa Kỳ mới mở phòng liên lạc giữa hai nước vào ngày 3-2-1995 và nối lại bang giao năm 1996. Một Ðại Sứ Mỹ tại Hà Nội được Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận sau 22 năm chiến tranh chấm dứt, đã chính thức xác nhận sự bình thường hoá ngoại giao với VC.

 

Tóm lại lịch sử đã ngừng lại và quay tròn đúng vào thời điểm cũ trên đất nước tội nghiệp VN. Cả hai: Tài phiệt Hoa Kỳ và cọng sản đệ tam quốc tế cũng đều vì quyền lợi riêng tư của mình, nên muối mặt đổi thù thành bạn. Lần này không còn sử dụng được chiêu bài VN là tiền đồn chống cộng, nên người Mỹ đã công khai tới VN qua danh phận lái buôn lái súng. Hiện trong cộng đảng cầm quyền đã manh nha hai phe theo Tàu, theo Mỹ. Nhưng dù VN có theo phe nào chăng nửa, thì chắc chắn đất nước chúng ta cũng sẽ bị cuốn hút theo vết xe lịch sử, khi Trung Cộng công khai gây nên thế chiến lần thứ 4 tại Á Châu-Thái Bình Dương.

 

Ðọc và viết lịch sử, không phải để khóc hận than thân, mà là lấy đó làm một kinh nghiệm để hành động cứu nước trong thực tại và tương lai. Năm 1954, khi cọng sản đệ tam chiếm được miền Bắc, một số ít trí thức khoa bảng chạy vào làm trùm tại VNCH, nên họ chẳng hề biết gì về kinh nghiệm sống chung với VC. Ngày 30-4-1975, khi VC chưa vào Sài Gòn, số trí thức khoa bảng trên lại ù trốn chạy sang Mỹ hay ngoại quốc. Họ không hề biết thế nào là sự đổi đời của phận người xuống hàng súc vật. Ở ngoại quốc vì quá tự do cái miệng, nên vẫn chứng nào tật đó, coi sự hiểu biết của mình qua mớ bằng cấp có được (thật hay dỏm đâu ai biết?) ngang hàng với lãnh tụ, muốn ai cũng phải theo ý và đứng sau lưng mình. Họ vì không sống thật với lịch sử nên chẳng bao giờ có kinh nghiệm lịch sử, vẫn ảo tưởng xây lâu đài và chức phận trên cát biển, vẫn ngây thơ muốn hòa hợp hòa giải, với một đảng cướp tàn bạo bất lương, qua tám mươi năm chỉ lừa bịp lường giết đồng bào và bán nước mình mà thôi. Tệ nhất là những ngài trí thức và gia đình mình, lúc nào cũng thích sang giàu hạnh phúc nơi thiên đường Âu Mỹ, mà mồm thì luôn xúi người khác, nếu đi hết biển, thì phải trở về để làm nô lệ cho cọng sản.

 

Cũng may bọn người này không nhiều và ngày nay hầu hết đều giống như những bình vôi già nua, mà Phan Khôi từng ví với bọn cán ngố miền Bắc trong tác phẩm ‘Trăm Hoa đua nở’, chỉ nổ trên giấy hay nằm trơ trọi trong góc đời hiu quạnh về chiều..

 

Thảm thê cho thân phận nhược tiểu VN -/-

 

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

Quốc Hận 30-4-2012

 MƯỜNG GIANG

 


TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30 THÁNG TƯ TẠI TƯỢNG ĐÀI VIỆT MỸ LITTLE SAIGON

 Hue Vuong
Ban Tổ Chức Quốc Hận 30 tháng Tư năm 2012 do cô Nguyễn Thu Hà thuộc Vietnamese Young Marine làm Trưởng Ban, gồm Cộng Đồng NVQG Nam California, Cộng Đồng Los Angeles, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH, Trung Tâm Tây Nam/Tập Thể Chiến Sĩ VNCH, Tổng Hội Sinh Viên VN Nam California, và nhiều hội đoàn, tổ chức khác ở miền Nam Californa.

37 Năm Niềm Tin, Hy Vọng

 

Vi Anh
Ba Mươi Tháng Tư này là Ba Mươi Tháng Tư thứ  ba mươi bảy. Ba mươi bảy năm niềm tin và hy vọng. Hy vọng vươn lên từ cuộc hành trình đầy gian khổ nhưng nhiều vinh quang. 
Các cơ quan đoàn thể chánh trị, văn hóa, xã hội, và truyền thông đại chúng của người Việt Hải Ngoại ở Âu, Mỹ, Úc châu từ mấy tháng nay đã chuẩn bị tổ chức kỷ niệm rầm rộ. Ba mươi bảy năm trên ba triệu người Việt đã gạt nước mắt rời bỏ quê nhà đi tỵ nạn CS trên 60 quốc gia, trải rộng khắp năm châu, bốn biển. Tất cả đồng loạt, đồng lòng tổ chức ngày Ba Mươi Tháng Tư thật lớn.

Ba mươi bảy năm theo xã hội học là một thế hệ. Nhưng đối với người Việt tỵ nạn CS, đó là cả ba thế hệ – thế hệ thứ nhứt, một rưỡi, và thứ hai — chụm lại thành một thực thể trong cuộc hành trình đầy gian khổ nhưng cũng đầy vinh quang với hy vọng đã, đang và sẽ vươn lên theo định luật của sự sống thành một thế lực lớn mạnh thấy rõ. 

Gian khổ qua  6 giai đoạn của cuộc hành trình: Di tản, Vượt biên, ODP, Đi bán chánh thức HO, Con cái HO, Hồi Hương. Đó là máu, nước mắt, mồ hôi, vui buồn, vinh nhục, sướng khổ, thành bại của ba thế hệ, là sự nghiệp, là thành tích xuất sắc chung và lớn của quần chúng, là giai đoạn lịch sử bi hùng của dân tộc Việt. Thượng Đế cũng không thể đổi thay sự kiện lịch sử này. CS không thể và không bao giờ chối bỏ được. 
Chính CS Hà nội cũng phải công nhận, từ chỗ ban đầu xem  người “vượt biên” là “tội phản quốc, phản động, phản cách mạng” và chỉ một hai thập niên sau phải gọi là “khúc ruột ngàn dặm của quê hương, Việt Kiều yêu nước”, khan cổ kêu gọi đem kiến thức, tiền bạc về “xây dựng quê hương”, giúp cho chế độ CS đã từng lên án người Việt ra đi tỵ nạn CS.

Đó là cuộc di tản vô tiền khoáng hậu trong lịch sử VN và thế giới sử cho đến bây giờ. Tổng số sống trên  ba triệu và chết  không dưới một phần ba. Theo lượng định của Phủ Cao ủy Người Tỵ nạn của Liên Hiệp Quốc, có bao nhiêu thuyền nhân (boatpeople) đến được bến bờ tự do thì độ phân nửa chết dưới biển.

 Máu, nước mắt, mồ hôi, gian nguy, khó khổ, số thương vong, số người, và dặm đường đi, đông hơn, nhiều hơn, xa đa dạng hơn cuộc di tản của dân Do Thái ra khỏi Cỗ Ai Cập trước Chúa Ky tô giáng sinh. Một cuộc di tản sau này trở  thành linh hồn của văn minh Tây Phương với cỗ sử, niềm tin, và hy vọng của người  Do Thái được đúc kết trong Kinh Cựu Ước và được chấp nhận như  một phần quan trọng của Thánh Kinh (Bible) của Ky Tô Giáo.

Ba mươi bảy năm cuộc di tản của người Việt đã làm lương tâm Nhân Loại chấn động, Cộng đồng thế giới bàng hoàng.  Liên Hiệp Quốc xem công tác giúp người Việt vượt biên, ra đi trong vòng trật tự là một công tác lớn nhứt thế kỷ của mình. Hầu hết các siêu cường trên thế giới, đặc biệt thuộc văn minh Tây Phương đều có nhận cho người Việt tỵ nạn CS đến định cư. Nước Mỹ là nước dang tay ra đón người Việt tỵ nạn CS nhiều nhứt. Trong thế giới sừ, chưa có một nước đồng minh nào như Mỹ, sau mấy chục năm chiến tranh chấm dứt mà còn cứu khổn phò nguy, cho định cư những đồng đội, đồng minh và gia đình sa cơ thất thế.

Nhưng ba mươi bảy năm cuộc hành trình ấy cũng đầy vinh quang, làm vẻ vang dân Việt. Một dân tộc VN yêu tự do, dân chủ, xây dựng nhân quyền đã rõ rệt trưởng thành trong lòng văn minh Tây Phương, trải dài từ Đông Tây Âu, sang Bắc Mỹ, xuống Úc Châu. Một VN Hải Ngoại (Việt Nam d’Outre Mer) đã thành hình, như một nước Pháp Quốc Hải Ngoại (France d’ Outre- Mer) trong thời thời Đức Quốc Xã tạm chiếm nước Pháp, đã đấu tranh đem lại tự do, dân chủ cho nước nhà. 

Về chánh trị, thế quốc tế của VN Hải Ngoại có chánh nghĩa hơn chế độ CS Hà nội vì CS Hà Nội chiếm được lãnh thổ, cướp được chánh quyền, mà không lãnh đạo được nhân dân, thống nhứt được non sông mà không thống nhứt được dân tộc. Quốc Hội Liên Âu, Mỹ, Úc, trái tim của nhân dân và chánh quyền tiến bộ các nước tự do, dân chủ trên thế giới đứng về phía chánh nghĩa đấu tranh cho tự do, dân chủ của người Việt Hải Ngoại, trong thời đại kinh tế toàn cầu và dân chủ hóa hoàn vũ được văn minh Tin Học yểm trợ.

Quốc kỳ VN Cộng Hòa đã được chánh quyền địa phương, hàng chục tiểu bang, hàng trăm quận hạt, thành thị Mỹ công nhận như biểu tượng tự do, dân chủ của người Mỹ gốc Việt. Người Việt tại nhiều nước trên thế giới đã đi vào dòng chánh chánh tri, chánh quyền, khoa học kỹ thuật, thể dục thể thao, nghệ thuật thứ bảy, truyền thông của Tây Phương.

Về kinh tế, ba mươi bảy năm hải ngoại, người Việt đã vượt qua thời kỳ chân ướt chân ráo nơi quê hương mới, một cách thần kỳ. Tự do, dân chủ rõ rệt là điều kiện tiên quyết của phát triển kinh tế. Mỗi năm người Việt Hải Ngoại chỉ gởi cho không để giúp bà con cô bác, bạn bè – chơi chơi thôi – con số đã trên bảy, tám tỷ Đô la. Theo thông lệ số tiền gởi cho của những người định cư ở Mỹ như dân Hispanics, Phi luật Tân, Trung Đông, số tiền cho chỉ chiếm dưới  5% của số tiền kiếm được. Điều đó cho thấy tổng sản lượng thuần của người Việt Hải Ngoại cao hơn của cả nước VN. Lợi tức đồng niên hải ngoại tính trên đầu người nhiều hơn cả trăm lần trong nước. Theo Ngân Hàng Thế giới trung bình một người Việt trong nước kiếm chưa đến 500 Đô/năm.

Về văn hóa xã hội, tại Mỹ cũng như tại Tây Âu, Úc Châu, tuy chưa có số thống kê khoa học, con số ước lượng người Việt Hải Ngoại tốt nghiệp đại học 4 năm trên 25% dân số hải ngoại. Nói gọn cứ 4 người Việt Hải Ngoại thì có 1 người tốt nghiệp đại học 4 năm tại các trương đại học trình độ giảng huấn văn hóa, khoa học, kỹ thuật tân tiến nhứt hoàn cầu. Chất xám của người Việt Hải Ngoại là cái mà CS Hà nội thèm muốn nhứt, nhưng dù khan cổ gọi mời, nhưng trí thức VN Hải Ngoại đi VN thăm quê hương, thăm người thân thì có, ở lại với CS thì không.

Tiếng Việt hải ngoại đã tiến triển theo dòng tiến hóa của ngôn ngữ, tiếp nối dòng ngôn ngữ Việt của bao thời kỳ độc lập VN, Ngô,Đinh, Lê, Lý,Trần, Lê, Nguyễn, đệ  nhứt, đệ nhị  Việt Nam Cộng Hòa, và vẫn trường tồn và phát triển sau 3 lần Bắc Thuộc, 1 lần Pháp Thuộc, và CS đọa đày. Tiếng Việt Hải ngoại biến “từ của CS” như hồ hởi, phấn khởi, ưu việt, nhứt trí, đồng tình, thành tử ngữ. Đồng thời phát huy thêm những chữ nghĩa liên quan đến chánh trị tự do, dân chủ và khoa học kỹ thuật là những chữ VN còn thiếu vì hoàn cảnh lịch sử và chiến tranh của nước nhà trước năm 1975. 

Kỷ niệm Ba Mươi Tháng Tư  là cơ hội người Việt Hải Ngoại tự xét một cách nghiêm khắc, khách quan nhưng đầy tin tưởng lạc quan. Niềm vui và hy vọng vươn lên với niềm tin sẽ hoàn thành lời hứa đem lại tự do, dân chủ cho đồng bào còn bị kẹt ở lại, lúc gạt nước mắt rời đất nước ra đi. 

Sau cùng, “Ra đi không phải là chết một hai phần nào” (Partir c’est mourir un peu) như một nhà thơ lãng mạn Pháp đã viết. Mà ra đi là để khôi phục niềm tin, chánh nghĩa đã bị tước đoạt, như Charles De Gaulle đã làm. Đó là tự do, dân chủ, nhân quyền VN cho quốc gia, dân tộc Việt. với hy vọng vươn lên dù bi quan cũng thấy đã, đang, sẽ lớn mạnh.

Thư của Phật tử Liên Thành gởi Thầy Viên Lý

Trù Trì Chùa Điều Ngự Nam California, USA.

Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo

Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành kiêm Trưởng Ban Tổ Chức.

___________________________________

Thưa Thầy Viên Lý,

Tôi xin tự giới thiệu tôi là Liên Thành, một Phật Tử xuất thân trong một gia đình có truyền thống và liên hệ đến Phật Giáo lâu đời, bởi lẽ Ngài Đệ I Tăng Thống Thích Tịnh Khiết tôi gọi bằng ÔN vì Ôn là anh ruột của Bà nội tôi là Phu Nhân của Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để một nhà Cách Mạng Việt Nam, ông là cháu đích tôn đời thứ sáu của Thế Tổ Cao Hoàng Đế Gia Long. Chúng tôi thuộc huyết thống chính thống của ngài Đông Cung Anh Duệ Hoàng Thái Tử Đại Nguyên Soái Nguyễn Phúc Cảnh. Ngoài ra trong đại gia đình chúng tôi có ông Tráng Đinh anh em chú bác ruột với phụ thân tôi là Trang Cử, ông Tráng Đinh đã cùng với Bác Sĩ Lê Đình Thám đứng ra thành lập Hội Phật Giáo tại Trung Việt thời kỳ Pháp thuộc mà sau nầy chính ông Trí Quang đã vào học giáo lý tại đây.

Trong đại gia đình tôi còn có Đại Lão Hòa Thượng Thích Chơn Trí tôi gọi bằng ÔN Chú, và anh tôi tên tục danh là Liên Phú là Đại Lão Hòa Thượng Thích Chơn Kim hiện trù trì tại một ngôi chùa vùng Đơn Dương, Đà Lạt, Việt Nam.

Thưa thầy,

Sở dỉ tôi phải trình bày lý lịch dài dòng văn tự để thầy hiểu rằng những thắc mắc mà tôi xin mạn pháp hỏi thầy không hề có ác ý và đánh phá tôn giáo của tôi là Phật Giáo như từ trước đến nay bọn côn đồ và Việt gian cộng sản nằm vùng tại hải ngoại thường vu khống tôi là đánh phá Phật Giáo và là dân Công Giáo Cần lao.

Thưa Thầy Viên Lý, với tư cách là một Phật Tử, với tư cách là một người lính VNCH và một Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, xin cho tôi được hỏi thầy một số câu hỏi dưới đây:

1) Trong những ngày cuối cùng 27,28,29 của tháng 4 năm 1975 thầy ở đâu? Thầy có chứng kiến những cảnh đau thương cùng cực của con dân miền nam trong cơn đại hồng thủy đang chụp xuống cho dân chúng miền Nam hay không.

2) Thầy có chứng kiến cảnh di tản của đồng bào trên khắp mọi nẽo đường xuôi Nam tìm cách lánh nạn cộng sản, thầy có chứng kiến cảnh bi thương của những người lính VNCH, CSQG buột phải buông súng hay không? Bao nhiêu người đã chết dưới lòng biển lạnh, bao nhiêu người đã chết trong rừng xanh núi thẳm khi tìn đường vứt thoát khỏi cộng sản? Thưa thầy, con số lên cả hơn triệu người.

3) 27,28,29 tháng 4 năm 1975 là những ngày tang tóc điêu linh của cả dân tộc Việt Nam, và NGÀY 30/4 /1975 LÀ NGÀY QUỐC HẬN THẦY BIẾT KHÔNG?

4) Vậy thi tại sao trong thư mời của văn Phòng II Viện Hóa Đạo thầy lại mời Phật Tử và quan khách tham dự Đại lễ Phật Đảng được tổ chức long trong trong ba ngày 27,28,29, tháng 4 năn 2012. Trong khi đó lễ Phật Đản năm nay là ngày 5 tháng 5

Thưa thầy Viên Lý,

Hiện nay dư luận trong cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại tất cả đều không thuận ý về việc thầy tổ chức ngay đại lễ Phật Đản vào ngày 27,28,29 và có hai nguồn dư luận như sau:

1) Hoặc là vì vô tình đã đưa đến hành dộng vô ý thức, thầy tổ chức đại lễ Phật đảng vào những ngày 27,28,29 tháng 4 là những ngày đau buồn nhất của dân tộc, những ngày mà miền Nam Việt Nam trong cơn hấp hối, những ngay miền Nan Việt Nam sắp rơi vào tay bộn cộng sản hung tàn.

2) Hoặc đây là một hành động đã được bọn cộng sản Việt Nan sắp xếp trước và được thi hành bởi đám tay sai Việt gian tại hải ngoại nhằm xóa tan NGÀY QUỐC HẬN 30 THÁNG 4.

Thưa thầy Viên Lý,

Bản chất tôi vốn dĩ chưa bao giờ lùi bước trước bất kỳ một hăm đọa và áp lực nào và luôn đứng về lẽ phải, đứng với chiến tuyến những người Việt quốc gia chống lại cộng sản Việt Nam hung tàn và những tên đê hèn Việt gian, vì vậy với đôi lời thô thiển mong được thầy trả lời cho những thắc mắc mà tôi vừa nêu trên, không những cho cá nhân tôi mà còn rất nhiều người đang chờ đợi lắng nghe lời giải thích của thầy.

Trân trọng

Liên Thành

Địa Chỉ: P.O.BOX 6147

Fullerton, Ca.92834

Điện thoại (cell Phone): 626-257-1057

EmaiL: to= biendongmientrung@yahoo.com 

LỜI KÊU GỌI CỦA ỦY BAN PHỐI HỢP CHỐNG CS VÀ TAY SAI và thư gửi Hòa Thượng Thích Viên Lý

  Kính gửi:       Quí vị Lãnh đạo Tinh Thần các Tôn Giáo
                              Quí vị Lãnh đạo các Cộng đồng, Hội Đoàn, Tổ Chức
                              Quí Trung tâm Băng Nhạc, Quí  Bầu Shows,
                              Quí Trung tâm Văn nghệ, Giải trí
Kính thưa quí vị,
Để tưởng niệm ngày Quốc Hận đau buồn của dân tộc Việt, để tưởng nhớ những chiến sĩ đã bỏ mình trong các trại tù Cs và hàng nửa triệu đồng bào đã hy sinh trên đường tìm tư do, chúng tôi tha thiết kêu gọi quí liệt vị cố gắng tránh tổ chức các buổi lễ lạc có tính cách vui tươi, ăn mừng như đại lễ Phật Đản hoặc các chương trình văn nghệ vui chơi có tính cách giải trí, hài hước vào những ngày cuối của tháng Tư Đen, là những ngày mà miền Nam VN rơi vào tay CS, chiến sĩ và đồng bào đã trải qua quá nhiều mất mát, đau  thương, tù đầy gian khổ, cha mất con, vợ mất chồng… và cũng chính vì biến cố tang thương 30 tháng Tư diễn ra trong tháng Tư Đen mà người Việt hải ngoại chúng ta đã phải tha hương, biệt xứ, tỵ nạn ở quê người. Do đó không vì bất cứ lý do nào, chúng ta lại quên đi những ngày đau thương đó để có thể vô cảm, tổ chức những buổi lễ lớn có tính cách ăn mừng vui chơi, giải trí vào tháng Tư Đen này. 
Chúng tôi rất mong được quí vị hưởng ứng lời kêu gọi chân thành và thiết tha này.
Xin trân trọng  kính chào và cám ơn quí vị.
TM Ủy Ban chống Cộng sản và Tay sai
        Ủy Ban chống tuyên vận CS.
             Phan Kỳ Nhơn
  *******************************************************************
                          ỦY BAN CHỐNG CỘNG SẢN VÀ TAY SAI 
                         kiêm ĐẶC NHIỆM CHỐNG TUYÊN VẬN CS
Kính gửi: Hòa Thượng Thích Viên Lý,
Kính thưa Hòa Thượng,
Chúng tôi là Phan Kỳ Nhơn, người đứng tên trên LỜI KÊU GỌI dẫn thượng xin trình bầy với Hoà Thượng như sau:
Tối thứ Sáu 27-04-2012, lúc 11 giờ đêm, trên chương trình phát thanh Việt Star, chúng tôi được nghe Hòa Thượng khá nặng lời chỉ trích “nhóm chống Cộng” chúng tôi là đã dùng tư cách nào để “cấm đoán quí vị tổ chức lễ Phật Đản vào tháng Tư đen…”
Thưa Hòa Thượng, điều này theo tôi là hoàn toàn không đúng sự thực chiếu theo nguyên văn Lời Kêu Gọi đính kèm, mặc dù Ủy Ban của chúng tôi được Cộng đồng và các Hội đoàn tại Nam Cali bầu ra trong một Đại Hội khoáng đại Cộng đồng từ nhiều năm nay, với nhiệm vụ chống CS & Việt gian tay sai và đặc nhiệm chống tuyên vận CS,  nhưng chúng tôi chưa hề có lời lẽ nào gọi là “cấm đoán”  bất kỳ ai ở đây, kể cả quí Chùa làm những gì quí vị muốn làm, chúng tôi hiểu rõ hơn ai hết đây là đất nước tư do. 
Trong thông cáo nêu trên, chúng tôi chỉ tha thiết kêu gọi một cách rất hòa nhã và chung chung đối với mọi tổ chức, kể cả các Cộng đồng, các Hội đoàn, các Trung tâm băng nhạc, các Bầu shows nên tránh tổ chức các cuộc lễ lạc có tính cách ăn mừng, vui chơi giải trí vào những ngày đau buồn, cuối tháng Tư đen như báo chí, truyền thông và nhất là các trang mạng internet đã đề cập đến rất nhiều trong những ngày gần đây như trường hợp Ông Nguyễn Ngọc Ngạn. Việc kêu gọi và nhắc nhở  chung chung các tổ chức tránh tổ chức vui chơi giải trí vào những ngày cuối của tháng Tư đen là nhiệm vụ của ủy ban chúng tôi, chúng tôi không nhắm vào cá nhân tổ chức nào cả.
Nơi đây, tôi rất mong Hòa Thượng là bậc tu trì đáng kính, xin đừng để những phần tử xấu xuyên tạc, xách động với ý đồ muốn chia rẽ hàng ngũ người tỵ nạn chống Cộng của chúng ta và nhất là không nên để họ khích động đưa ra những lời lẽ làm tổn thương đến danh dự và uy tín của những người chống Cộng đang bị bọn Việt gian tay sai vu khống, kiện cáo ở toà án Santa Ana suốt thời gian qua.
Xin trân trong kính chào Hòa Thượng.
Little Saigon, ngày 28-04-2012
    Phan Kỳ Nhơn

NHỮNG VIÊN ĐẠN ĐÚC BẰNG MÁU TIM


 Võ Đại Tôn

 

(Viết nhân dịp cùng Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu biểu tình Quốc Hận lần thứ 37 trước tòa đại sứ Cộng Sản Việt Nam tại thủ đô Canberra, Úc Đại Lợi, 28.4.2012)

 

Tòa đại sứ các “Anh”

Dù nguy nga rộng lớn

Nhưng lạnh lùng ghê rợn

Đầy bóng dáng âm hồn.

Vách tường cao vây kín tựa mồ chôn

Lương tâm khóa chặt.

Sau khung cửa sắt

Các “Anh” trốn như đàn dơi

Sợ ánh sáng mặt trời.

Chúng tôi đứng đây, bừng cao tiếng thét

Thay mặt dân oan bị các “Anh” bóp nghẹt

Tiếng nói Con Người.

Lời chúng tôi : – từng viên đạn máu tươi

Không đúc bằng hận thù dĩ vãng

Mà kết tinh từ Tuyên Ngôn trong sáng

Đòi lại Quyền Dân.

Các “Anh” đã bịt tai, sợ Sự Thật phơi trần

Với muôn ngàn tội ác.

Mặt nạ các “Anh” làm đui mù võng mạc

Không thấy nỗi tang thương.

Cùng chung nòi giống, cùng một quê hương

Bao năm rồi, các “Anh” thẳng tay tàn phá.

Cây Tổ Quốc, các “Anh” đốn ngã

Đạp chân lên lịch sử mấy nghìn năm.

Các “Anh” du nhập một tà thuyết xa xăm

Đạo Sống Việt bị Vô Thần phá hủy.

Đảng các “Anh” tuyên truyền thắng Tây, thắng Mỹ

Nhưng giờ đây không thắng nỗi lòng tham.

Thắng chúng tôi, chung giòng máu phương Nam,

Rồi vơ vét đến tận cùng xương tủy.

Bạo lực các “Anh” đắp xây thành lũy

Ngăn Lòng Dân, không một chút thương tâm.

Chúng tôi đại diện hàng triệu kẻ âm thầm

Bao ngõ ngách bùn lầy khổ hạnh.

Mong được sống, bị đòn thù đập đánh

Bị giam cầm khi tố chuyện bất công.

Tội ác các “Anh” làm tanh máu Tiên Rồng

Lưu lại nghìn sau toàn màu đen Dân Tộc.

Chưa kể tội tày trời bán buôn Tổ Quốc

Làm chư hầu, mong đảng trị độc tôn.

Nếu còn chút lương tri, còn sót mảnh linh hồn

Các “Anh” mở mắt nhìn một tấm hình em nhỏ.

Mới 5 tuổi đầu, ai đem thây vứt bỏ

Thân còng queo, loang lổ vết thương khô.

Em bị bán qua tận xứ Biển Hồ

Đất Cao Miên nơi rừng sâu hoang lạnh.

Cho lũ người thỏa cơn thú tánh

Phá trinh em, vùi dập tuổi thơ ngây.

Mười mấy nghìn em trong hang ổ đọa đày

Mẹ Âu Cơ từng đêm ôm mặt khóc.

Còn bao cảnh khoe tấm thân ngà ngọc

Đem rao hàng : – Đây thiếu nữ Việt Nam !.

So đo lời lỗ, bọn du khách Đại Hàn

Chọn mua em như mớ rau ngoài chợ !

Các em lạc loài làm thân con ở

Nơi xứ người, nô lệ, cảnh lầm than.

Còn các “Anh” chểm chệ sống giàu sang

Xây dinh thự, toàn “đại gia” thụ hưởng.

Một chầu rượu cười say ngất ngưởng

Của các “Anh” bằng dân sống một đời.

Ngôn ngữ Việt Nam không còn chữ còn lời

Ngoài tên gọi các “Anh” là  : – Tội Ác !.

 

*

 

Tòa đại sứ các “Anh” dù tường cao, lính gác,

Như đảng các “Anh” dùng bạo lực ngăn bờ.

Sẽ có một ngày

Từ mẹ già đến trẻ ấu thơ

Cùng Toàn Dân đứng dậy !

Rồi các “Anh” sẽ thấy

Những viên đạn đúc bằng máu tim

Xuyên thủng màn đêm

Phá tan bạo ngược.

Các “Anh” sẽ không bao giờ biết trước

Cuồng phong ập đến bất ngờ.

Như bao bạo chúa trong cung ngọc điện thờ

Cũng tan thành tro bụi.

Trả lại cho Dân từng nhánh sông, khe núi,

Từng bát cơm, từng mái lá yên lành.

Tổ Quốc hồi sinh – không còn bóng các “Anh”,

Không xiềng xích ngục tù, tan bạo lực.

Đàn em thơ tay thơm mùi giấy mực

Tô thắm màu hai chữ Tự Do.

Dân Tộc chúng tôi mừng hạnh phúc, ấm no

Trời Nhân Bản thoát kinh hoàng ác mộng.

Lịch sử sang trang, huy hoàng Lẽ Sống

Ngẩng cao đầu, hãnh diện : VIỆT NAM !

 

 

                                                      Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

                                                      Canberra, Úc Châu, Quốc Hận 37.

 

  

Chuyện dài Nguyễn Ngọc Ngạn


Tuần báo Saigon Nhỏ, 30 thang4, 2012
Đào Nương
NguyễnVăn Sĩ người đại diện cho báo Saigon Nhỏ tại tiểu bang Minnesota là một người năng động và có tài về quảng giao. Báo Saigon Nhỏ tại Minnesota là một trong những ấn bản thành công của hệ thống báo tuần Saigon Nhỏ. Nhưng bảo ông Nguyễn văn Sĩ (hay Sĩ Nguyễn trên các diễn đàn) là “bầu show chuyên nghiệp” như lời ông Nguyễn Ngọc Ngạn viết trong bài “Giá không có tôi” để trả lời khi bị chỉ trích về việc ông làm MC cho show ca nhạc “Tình Ca Muà Xuân” tổ chức tại Berlin trong ngày 30 tháng 4 năm nay là không chính xác. Vì tổ chức những buổi văn nghệ kỷ niệm Saigon Nhỏ có mặt tại tiểu bang Minnesota hàng năm nên Sĩ Nguyễn quen biết với các ca sĩ nổi tiếng ở Cali. Rồi vì có gia đình buôn bán khá giả ở Paris nên mấy năm sau này, Sĩ Nguyễn “đột xuất” thành “bầu show”. Trong hệ thống báo Saigon Nhỏ, đây không phải là một trường hợp độc nhất. Có thể nói, những người đại diện Saigon Nhỏ tại các điạ phương đều là những người quảng giao hơn chủ nhiệm Hoàng Dược Thảo rất, rất nhiều. Tôi luôn luôn nghĩ tôi là người may mắn vì trước sau, những đại diện địa phương của tuần báo Saigon Nhỏ đều thân thiết với tôi, dù đôi khi họ “khổ sở” vì những bài viết của tôi. Nhưng trước sau như một, họ luôn luôn yểm trợ lập trường chống cộng tuyệt đối của tôi. Chúng tôi thân nhau như người trong một đại gia đình.
Những lần Sĩ Nguyễn về Cali, gặp nhau, tôi đều khuyên phải thận trọng và nhất là đừng… “quá hăng say” rồi hố nặng. Đã có một kinh nghiệm tương tự như vậy 10 năm trước đây với kết thúc thật không tốt đẹp gì cho một người đại diện của Saigon Nhỏ tại miền Tây Bắc. Việc tổ chức ca nhạc của “bầu show” Sĩ Nguyễn trước đây rất thuận buồm xuôi gió. Ít ra cho đến hôm nay. Tôi vẫn phải ngợi khen “ông bầu” đột xuất này vì tổ chức một show ca nhạc không phải là một chuyện ai cũng có thể làm được.
Khi tin tức về một buổi ca nhạc sẽ được tổ chức tại Berlin vào đúng ngày 30 tháng 4 năm nay với chủ đề Tinh Ca Mùa Xuân với sự góp mặt của ông MC Nguyễn Ngọc Ngạn và các ca sĩ từ Hoa Kỳ sang, bị phản đối, tôi có gọi điện thoại và Sĩ Nguyễn cho tôi biết là sẽ có ba đêm diễn tại Âu Châu trong 3 ngày liên tiếp 27, 29 và 30 tháng 4 và Sĩ “bán giàn” hai nơi ở Olso và Berlin cho những nhà tổ chức điạ phương, chỉ chịu trách nhiệm ở Paris. “Ông bầu” đột xuất này đã phân trần là đây là lần thứ hai, ông mang “quần hồng” sang đấm “xứ Tây” vào dịp cuối tuần Lễ Lao Động Quốc Tế 1 tháng 5. “Lần trước, cũng vào 30 tháng 4 đều êm xuôi, nhưng không hiểu sao lần này lại bị … kẹt”. Tôi bảo Sĩ rằng vậy thì nên hủy bỏ nếu còn muốn làm ăn lâu dài. Từ nay, nên để ý đến vấn đề “nhạy cảm” này. “Bầu show” thường cứ cắm đầu cắm cổ đi vào chi tiết kỹ thuật, quên mất ngày tháng, cứ tưởng khi nào mướn được rạp, chạy được ca sĩ là có thể tổ chức “show” trình diễn được. Nghề tổ chức show ca nhạc, thành công thì lời được vài chục ngàn, hao tổn biết bao nhiêu tâm sức nhưng thua thì đi luôn cả trăm ngàn là chuyện bình thường. Ngày hôm sau, Sĩ gọi lại cho tôi biết rằng anh sẽ ngưng “bán giàn” cho buổi trình diễn tại Berlin ngày 30 tháng 4, 2012 để tránh gây hiểu lầm với đồng hương “nhạy cảm” về chính trị vì anh cũng là một người chống cộng. Sĩ Nguyễn lập lại anh chỉ là người “bán giàn” ca sĩ trình diễn; người tổ chức tại Berlin là một người ở điạ phương.
Ngày Thứ Sáu, tôi nhận được thông cáo chính thức của “bầu show” Sĩ Nguyễn về vụ hủy bỏ buổi trình diễn tại Berlin trong ngày 30 tháng 4. Thế là tưởng đã yên. Coi như ông “bầu show đột xuất” “biết lỗi” vì sơ suất không để ý đến vấn đề chính trị. Nhưng khổ một nỗi, chuyện không dừng ở đó sau khi một cái Video Clip cùng một bài viết của ông MC Nguyễn Ngọc Ngạn dạy dỗ người Việt hải ngoại về chính trị được phát tán trên mạng lưới Internet.
Sau đây là một vài điểm chính trong cuộc phỏng vấn ông NNN do một đài TV ở Toronto thực hiện:
1. Đây không phải là lần đầu tiên một show ca nhạc được tổ chức tại Berlin trong ngày 30 tháng 4. Vã lại đây là một chuỗi 3 shows liên tiếp trong 3 ngày 27, 28 và 30. Sau lại tách rời show ngày 30 tháng 4 ở Berlin ra mà phản đối. Vì thế mà ông NNN cho rằng sự chống đối là do “ác cảm” của một thiểu số người trên Net dành cho ông chứ không phải vì lý do chính trị.
2. Ông NNN không đồng ý về cách chống Cộng “kiểu” này. Không lẽ cộng sản có bao nhiêu ngày lễ trong năm là chúng ta phải tránh xa hết cả. Nếu trung tâm Asia không tổ chức show trong ngày 19 tháng 5 và gặp sự chống đối thì thế hệ thứ 2 đâu có ai biết đó là ngày sinh nhật cuả Hồ Chí Minh.
3. Trước đây khi ông làm MC tại Ba Lan và Tiệp Khắc những người tổ chức cũng gặp sự chống đối của Toà Lãnh Sự cộng sản về sự hiện diện của ông và Bằng Kiều.
Cuộc phỏng vấn ông “3N” được thực hiện bởi một “thế hệ trẻ”. Cô này “hưởng ứng” lời nói của ông 3N nhiệt tình và đồng ý rằng nếu không có sự chống đối về ngày 19 tháng 5 thì thế hệ của cô sẽ không ai biết rằng đó là ngày sinh của HCM (?)
Từ ngày Chủ Nhật, thư của ông 3N về vụ đại hội ca nhạc “Tình Ca Muà Xuân” trong ngày 30 tháng 4 tại Đức lại lập lại những điều này.
Trích: GIÁ KHÔNG CÓ TÔI, Nguyễn Ngọc Ngạn
Ông Sĩ Nguyễn, đại diện tờ Sài gòn Nhỏ tại Minnesota, là một bầu show chuyên nghiệp, tính tình hòa nhã, rộng rãi và lịch sự, nghệ sĩ ai cũng cảm mến. Ngoài việc tổ chức shows, Sĩ cũng thường tự nguyện phụ giúp các chương trình Hội Chợ Tết hoặc Đại Hội Thánh Mẫu, dù phải bay đi khá xa. Người ta cũng nhớ Sĩ Nguyễn từng làm show Cám Ơn Anh, thu được khá nhiều tiền cho thương phế binh QLVNCH.
Hằng năm, vào dịp Lễ Lao Động Quốc Tế (1 tháng 5), Sĩ hay làm show bên Âu Châu, bởi đây là cái weekend đầu tiên có nắng ấm sau những ngày dài mùa Đông.
Cách đây 3 năm, tức 2009, Sĩ tổ chức tour Âu Châu nhân dịp lễ Lao Động 1 tháng 5, trong đó có show tại Berlin đúng vào tối 30 tháng 4. Chẳng có ai đặt vấn đề vì ai cũng biết hôm sau là ngày nghỉ. Năm nay, 2012, Sĩ lại tổ chức tour Âu châu nhân dịp lễ lao động và mời tôi làm MC bên cạnh các nghệ sĩ Ý Lan, Đan Nguyên, Quốc Khanh, Nguyễn Hồng Nhung, Bằng Kiều, Minh Tuyết, Thúy Nga, Lê Tín và ban nhạc Hoàng Thi Thi. Đối với Âu châu thì đây là một show lớn, nhất là đem theo cả ban nhạc từ Hoa Kỳ.
Nghệ sĩ từ Mỹ gần như không có ai chịu đi Âu châu chỉ để hát một show. Có năm, tôi đi liên tục 12 shows vào dịp cuối năm. Sĩ cũng biết như thế, cho nên anh cố gắng thu xếp để ít nhất nghệ sĩ có được 3 shows: Ở Paris là thứ bảy 28. Ở Na-Uy là chủ nhật 29 và ở Berlin là thứ hai 30, giống như năm 2009 mà Sĩ đã làm. Sĩ trực tiếp phụ trách show Paris. Hai shows kia thì bán lại cho người địa phương.
Nhưng năm nay khác hẳn 3 năm trước mà chính Sĩ cũng không ngờ. Năm 2009, cũng ở Berlin vào ngày 30 tháng 4 thì mọi chuyện êm ả. Năm nay cùng ngày đó thì lại gặp sóng gió. Lý do chính là vì có Nguyễn Ngọc Ngạn! Nghĩa là người ta không chống show đó, mà là chống Nguyễn Ngọc Ngạn. Bởi nếu chống show thì 3 năm trước đã chống rồi!
Từ lâu, tôi vẫn biết trong cộng đồng có một số người rất đau khổ khi cứ phải nhìn thấy tôi trên sân khấu! Chính tôi cũng ngạc nhiên vì cứ tưởng mình làm văn nghệ đã 20 năm, đã là một khuôn mặt nhàm chán lắm rồi, thế mà vẫn có người theo dõi từng bước chân. Niềm mơ ước thầm kín của họ là tôi xuống khỏi sân khấu. Tôi đi làm văn nghệ cũng như người ta đi vào nhà máy, vào hãng xưởng, ở tuổi gần 70 có còn nghĩ gì đến danh vọng nữa đâu. Đi làm để sống chờ ngày về hưu thế thôi. Vậy mà cũng khó yên! Những người ngứa mắt vì tôi vốn không đông – bởi nếu đông thì tôi đã nằm nhà từ lâu rồi – nhưng vì cái diễn đàn internet là mảnh đất màu mỡ của thư nặc danh, cho nên nó thành đông, bởi một người có thể dùng cả chục, cả trăm bút hiệu để tạo một làn sóng đánh phá.
Thánh nhân xưa có câu: “Lòng ganh tị thường làm cho người ta trở nên nhỏ nhen và độc ác”! Điều này ai cũng thấy rõ trên những lá thư, những bài viết nặc danh. Họ dùng những lời lẽ thô tục, cộc cằn, quên cả tuổi tác và địa vị của mình, quên rằng mình đã có con cháu và hằng ngày vẫn nghiêm khắc dạy con cháu bài học ngay thẳng và đạo đức!
Hôm nay, tôi viết bài tâm sự này không nhắm vào những người đó. Tôi chỉ muốn viết để gửi đến quí khán giả và độc giả của tôi, những người bao nhiêu năm qua đã dành thiện cảm cho tôi, nhưng dịp này có thể bị… chơi vơi vì dư luận, khiến quí vị hiểu lầm.
Giờ này, Ban Tổ Chức, tức ông Sĩ Nguyễn, đã ra thông báo hủy bỏ show ngày 30 tháng 4 tại Berlin. Tôi rất tiếc không làm được show này. SĨ và anh em nghệ sĩ chắc cũng cảm thấy như tôi và nhất là tội nghiệp ông bầu show bên Đức đã bỏ ra một món tiền rất lớn, chưa kể mất uy tín với khán giả bên đó.
Tại sao tôi tiếc?
Từ sau khi tháp tùng phái đoàn đại diện người Việt vào Tòa Bạch Ốc đưa thỉnh nguyện thư và yêu cầu Mỹ can thiệp về nhân quyền tại VN, ca sĩ Quốc Khanh đi đâu cũng hát bài ANH LÀ AI của Việt Khang. Tuần rồi bên Úc, tôi đi chung với Quốc Khanh và Đan Nguyên, hai người song ca được khán giả nhiệt liệt ủng hộ. Sĩ nói với tôi là 3 shows Âu châu kỳ này, Quốc Khanh và Đan Nguyên cũng sẽ hát bài đó. Tôi triệt để ủng hộ và khuyến khích việc này. Đáng chú ý nhất là ở Berlin, nơi mà hơn 90% là khán giả miền Bắc, tôi muốn giới thiệu, giải thích về bài hát này trước khi Quốc Khanh hát. Hát bài này ở Mỹ thì là chuyện bình thường, bởi toàn khán giả Miền Nam. Hát bài này trước khán giả Miền Bắc mới quan trọng. Tôi đã chuẩn bị sẵn lời giới thiệu cẩn trọng bởi khán giả đều là những người sinh ra và lớn lên trong chế độ Cộng Sản trước đây. Bây giờ họ ở lại, làm quen với không khí dân chủ phương Tây, đây là dịp chúng ta đến gần với họ. Cũng vì đại đa số khán giả ở Berlin là người Miền Bắc nên trên poster không quảng cáo Quốc Khanh và chỉ in hình Quốc Khanh ở hai shows kia. Nhưng bầu show đã thỏa thuận trả thù lao cho Quốc Khanh ở cả 3 shows để anh hát ở cả 3 shows, coi như một chút gì gợi nhớ để ghi dấu ngày 30 tháng 4. Bây giờ thì mọi chuyện đã lỡ, ngược hẳn mọi dự tính của Ban Tổ Chức và nghệ sĩ. Thôi thì đành chờ dịp khác vậy!
Trong những trường hợp tương tự, có thể còn xẩy ra trong tương lại, tôi xin bạn đọc dành hai phút, bình tâm đặt ra một số câu hỏi, bạn sẽ thấy ngay được cái vô lý của luồng dư luận đầy ác tính:
Anh em nghệ sĩ cũng như Nguyễn Ngọc Ngạn, chẳng lẽ từ Bắc Mỹ xa xôi bay sang tận Bá Linh để làm một show vào ngày thứ hai, 30 tháng 4 rồi bay về? Đâu có đến nỗi ngớ ngẩn hoặc desperate quá như vậy?
Tôi viết gần 40 cuốn sách chống chế độ, chẳng lẽ bây giờ tôi phủ nhận hết, đốt đi hết, để đi làm 1 show cho sứ quán Việt Nam hay sao? Họ trả được bao nhiêu tiền?
Từ 3 năm nay, các bầu show trong nước mời tôi về liên tục. Mà không cần nói, bạn đọc cũng biết hiện nay thù lao trong nước trả rất cao, nhất là đối với tôi. Một khi tôi đã dám từ chối những quyền lợi lớn lao ấy, chẳng lẽ lại bay sang hát có một show cho sứ quán bên Đức hay sao?
Trung tâm Asia gây dựng tên tuổi bằng nhạc đấu tranh, nhạc lính, tạo được niềm tin lớn trong cộng đồng. Chẳng lẽ các ca sĩ Asia lại bán hết tên tuổi của mình và của trung tâm trong chốc lát để đi hát cho sứ quán VN?
Đối với chúng ta, văn nghệ có thể chỉ là giải trí. Nhưng với Cộng Sản thì không đơn giản như vậy. Bài bản lúc nào cũng bị kiểm duyệt. Nếu sứ quán VN có dính dáng xa gần đến show này thì họ có ngu gì mời ca sĩ Asia là những người chuyên hát nhạc lính? Họ có ngu gì mà mời tôi là tác giả hàng loạt truyện đả kích hoặc châm chọc họ?
Dù sao đi nữa, tôi cũng lấy làm tiếc là tôi đã nhận lời làm show này để gây phiền toái cho bầu show và nghệ sĩ. Bởi vì, giả như không có tôi, chắc chắn mọi chuyện đã êm xuôi, giống như ngày 30 tháng 4 năm 2009, show cũng diễn ra ngay tại Berlin mà không có một tiếng than phiền nào cả.
Nguyễn Ngọc Ngạn
(ngưng trích)
Ai ganh tị với Nguyễn Ngọc Ngạn?
Tôi không nghĩ tôi thuộc vào “thiểu số người rất đau khổ khi cứ phải nhìn thấy ông Nguyễn Ngọc Ngạn trên sân khấu!” vì “Lòng ganh tị thường làm cho người ta trở nên nhỏ nhen và độc ác”! vì diễn đàn Saigòn Nhỏ chắc chắn không phải là “mảnh đất màu mỡ của thư nặc danh, cho nên nó thành đông, bởi một người có thể dùng cả chục, cả trăm bút hiệu để tạo một làn sóng đánh phá.” Ngược lại là đàng khác, Tôi nghĩ số người “đau khổ” khi phải chứng kiến thái độ “mục hạ vô nhân” của ông Nguyễn Ngọc Ngạn về nhiều vấn đề khi ông làm MC trên sân khấu không phải là nhỏ. Nhưng ảnh hưởng của ông với tầng lớp bình dân, khán giả của những show ca nhạc mời ông làm MC không phải là không có.“Những lá thư, những bài viết nặc danh” chỉ trích ông không phải đương nhiên mà có. Khi biết khen “ông bầu” Sĩ Nguyễn là người tính tình hòa nhã, rộng rãi và lịch sự, nghệ sĩ ai cũng cảm mến, sao ông NNN không tự hỏi chính ông là vì sao mà có nhiều người ghét ông đến thế? Công việc của ông không phải là một công việc có nhiều người muốn cạnh tranh nên “nói xấu” ông vì sân khấu ca nhạc của Việt Nam tại hải ngoại không nhiều, MC quanh đi quẩn lại, không ông Ngạn thì lại ông Việt Thảo. Cầu thủ nào cũng vậy. Đá lâu vì quen sân, đâu có ai tranh dành với ông đâu mà ghen với tị. Những người“những lời lẽ thô tục, cộc cằn, quên cả tuổi tác và địa vị của mình” là ai vậy, thưa ông? Ai đã có con cháu và hằng ngày vẫn nghiêm khắc dạy con cháu bài học ngay thẳng và đạo đức mà còn thù ghét ông vì ganh tị vậy? Thế giới Internet tuy lồng lộng mà … hình như không ai thoát cả. Những email dùng lời lẽ thô tục để chỉ trích người khác sẽ bị lột mặt nạ và đào thãi ngay. Đó là lý do mà ngày nay với kỹ thuật tân tiến của Internet, Việt cộng cũng đã không trà trộn được vào thế giới ảo để hại uy tín và danh dự người Việt hải ngoại được. Vì những điện thư, những bài viết với loại ngôn ngữ thô tục, những bài ca tụng cộng sản sai sự thật, những diễn đàn bát nháo bị cho vào Spam ngay lập tức.
Theo như cuộc phỏng vấn của ông với cô “thế hệ trẻ” thì ông Nguyễn Ngọc Ngạn cho biết ông không xử dụng Internet để tránh bận tâm với những điều chỉ trích ông. Vàng thật thì tại sao lại sợ lửa. Khi một “thiểu số” vì ganh tị mà đánh phá ông thì “đa số” ái mộ ông chắc sẽ không để cho “thiểu số” này được yên. Thế giới Internet là thế giới ảo mà lại rất thật. Không gì đáng ngại cho một kẻ vô lương bằng Internet. Vì chuyện xãy tận đâu đâu, chân trời góc biển nào thì cũng sẽ được phanh phui trong nháy mắt. Ngược lại, Internet không hại được người ngay bao giờ. Một bài viết sai về một sự kiện hay một nhân vật thường có ngay 10 bài viết phản biện. Ông Nguyễn Ngọc Ngạn có bao giờ tự hỏi tại sao “đa số” yêu thích, ái mộ ông không lên tiếng bênh vực khi ông bị công kích về những sai lầm của ông không?
Thực ra, lá thư trên cho thấy ông NNN không phải là một người minh mẫn hay sáng suốt. Câu trên, ông viết “hàng năm thì ông Sĩ vẫn tổ chức những show vòng Âu Châu” thì ngay bên dưới ông lại cho biết đây mới là lần thứ hai. Lần đầu là vào năm 2009. Tại sao ông không nghĩ rằng năm 2009 vì là lần đầu “đột xuất” nên đồng bào chưa kịp phát hiện. Cho đến lần này, lần thứ hai thì bị phản đối cũng là điều bình thường. Vã lại, như bài ông viết, đa số khán giả tại Berlin, Đức quốc làngười ra đi từ miền Bắc nên có thể họ không bị “mẫn cảm” về ngày 30 tháng tư như đa số đồng hương tị nạn cộng sảnchúng tôi. Tôi không dám dùng chữ chúng ta trong trường hợp này vì hình như tuy là một người tị nạn vượt biên tìm tự do tránh hiểm họa cộng sản nhưng ông NNN lại thấy việc ca nhạc, vui chơi trong ngày 30 tháng 4, ngày đau thương vủa toàn thể miền Nam Việt Nam lại là một điều bình thường. Đó mới là chuyện lạ!
“Chính tôi cũng ngạc nhiên vì cứ tưởng mình làm văn nghệ đã 20 năm, đã là một khuôn mặt nhàm chán lắm rồi, thế mà vẫn có người theo dõi từng bước chân. Niềm mơ ước thầm kín của họ là tôi xuống khỏi sân khấu. Tôi đi làm văn nghệ cũng như người ta đi vào nhà máy, vào hãng xưởng, ở tuổi gần 70 có còn nghĩ gì đến danh vọng nữa đâu. Đi làm để sống chờ ngày về hưu thế thôi. Vậy mà cũng khó yên! Những người ngứa mắt vì tôi vốn không đông – bởi nếu đông thì tôi đã nằm nhà từ lâu rồi”.
Làm nghề MC mà hình như ông Nguyễn Ngọc Ngạn lại quên đi mất ông là một người cuả đám đông, một nghệ sĩ trình diễn? Việc được mọi người chú ý, phê bình, yêu hay ghét đâu phải là một điều… lạ đối với một nghệ sĩ. Điều khác biệt khi sống dưới chế độ cộng sản và tự do là khi không thích thì không ai ép buộc được ta phải làm điều ta không thích. Nếu không thích nghe ông 3N hát, nghe ông 3N nói, không thích đọc truyện ma cuả ông thì người ta chỉ cần không mua vé đi xem show có sự hiện diện cuả ông, không đọc sách cuả ông mà không cần thiết phải… mơ ước thầm kín là muốn ông đi xuống khỏi sân khấu làm gì. Muốn ăn phở thì đi đến tiệm phở, muốn ăn cơm thì đi đến tiệm cơm. Một người thích ăn cơm thì không cần phải có một ước mơ thầm kín là một ngày nào đó, bà bán phở sẽ không còn nấu phở được nữa để mà vui. Đó là chưa kể, đôi khi đi dự một show ca nhạc chỉ vì yêu thích một nghệ sĩ. Khi chưa đến giờ trình diễn cuả người đó, phải nghe những điều nhảm nhí, những âm thanh không hợp tai thì cũng là chuyện bình thường, đâu có gì là lạ đến độ mà ông Nguyễn Ngọc Ngạn phải quan trọng hoá “thiên tài” của ông đến thế. Dù gì, khi làm MC tức là một “nghệ sĩ” giới thiệu chương trình, ông cũng chỉ là một người cộng tác. Sai lầm của những người bầu show như ông Sĩ Nguyễn trong vụ này, hay của TT Thúy Nga với DVD Mẹ Việt Nam thì thiệt thòi mà ông Nguyễn Ngọc Ngạn phải chịu chỉ là một cái “cát xê” cho một buổi trình diễn nhưng với những người tổ chức thì là những thiệt hại rất lớn. Những phát biểu “thông thái” cuả ông Nguyễn Ngọc Ngạn lại chính là những thùng xăng “phóng hỏa”, đổ dầu thêm vào lửa mà những ông bầu show phải gánh chịu! Khoan đề cập tới vấn đề chính trị, khoan nói về lằn ranh quốc cộng mà chỉ nói về cách ăn ở cuả ông trong những lúc dầu sôi, lửa bỏng này thì đủ thấy tại sao sau 20 năm làm văn nghệ, số người “không ưa” ông không phải là thiểu số! Sự thực là sự thực. Như đã nói, sau thông cáo chính thức cuả bầu Sĩ là sẽ hủy bỏ ngày trình diễn tại Berlin trong ngày 30 tháng 4, coi như hai show ở Pháp và Na Uy sẽ được yên. Nhưng sáng nay, sau khi cái Video Clip mà ông Nguyễn Ngọc Ngạn “dạy về chống cộng” và đổ lỗâi show bị bể là do “lòng ganh tị” ông phá phách thì cả hai show trên cũng bị đe dọa theo. Cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản tại Âu Châu đang kêu gọi đồng bào tẩy chay cả hai show tổ chức vào ngày 28 và 29 tháng 4 tại hai thành phố Paris và Olso mặc dù vé đã bán hết, theo lời bầu Sĩ.
Tại sao không nên ca hát, liên hoan trong ngày 30 tháng 4 hay những ngày lễ lớn của CSVN?
Vì đảng cộng sản là kẻ thù của dân tộc Việt Nam. Ngày 30 tháng 4 không chỉ là một ngày đau buồn của riêng miền Nam mà là ngày đại hoạ của đất nước. Nhìn lại, những gì xãy ra cho Việt Nam ngày nay kể từ khi Việt cộng chiếm trọn đất nước: Chúng ta không chỉ mất đất, mất biển, mất đi chủ quyền đất đai vào tay Tàu Cộng mà tai hại hơn là sự tham ô và ngu xuẩn của bọn cán bộ cộng sản đã làm băng hoại đạo đức xã hội và xuy đồi luân lý của dân tộc Việt Nam. Nền giáo dục dựa trên căn bản lý lịch của bọn cộng sản đã, đang và sẽ tiếp tục đưa những thế hệ trẻ Việt Nam vào con đường mù chữ hay biết chữ mà như mù so sánh với mức độ dân trí của các quốc gia lân bang. Biết vậy nhưng thay vì thay đổi tình trạng giáo dục trong nước thì chúng lại cho con cái của chúng sang Hoa Kỳ … tị nạn về giáo dục. Chúng đã tạo ra những thế hệ trẻ vô cảm đến rợn người, không biết gì về lịch sử, về quá khứ đáng hãnh diện của tiền nhân nước Việt, về những đại họa mà đảng cộng sản Việt Nam đã gây ra cho dân tộc Việt Nam.
Khi ông giáo sư Việt Văn Đệ Nhất Cấp Nguyễn Ngọc Ngạn nói rằng ông không đồng ý với việc người Việt không cộng sản tránh tổ chức liên hoan ca nhạc trong ngày 30 tháng 4, trong những ngày Lễ cuả cộng sản thì thưa ông, ngày mà vợ con ông vượt biên rồi mất tích trên Biển Đông được ông ghi lại trong “những tác phẩm văn chương” của ông, ông có mời bạn bè, có tổ chức “tình ca” vì … đời ca hát ngày tháng cho người mua vui được không? Hay ngày đó, ông sẽ làm giỗ cho họ, sẽ thắp cho họ những nén hương, để người thân trong gia tộc của ông chia xẻ với ông nỗi đau thương của riêng ông mà đồng thời cũng là niềm đau của dân tộc. Đó chắc chắn sẽ là ngày duy nhất trong năm, ông sẽ tạm thời lánh xa những câu nói tục, những lời nói hàm hồ “cứ tưởng” là thông thái, là duyên dáng, xa lánh những thân thể lõa lồ của bầy ca nhi để nói với người thân về nỗi đau cuả ông dành cho đất nước, về cái đại họa đã đẩy thân nhân của ông ra Biển Đông mãi mãi không về. Trước ông, sau ông và cho đến bây giờ, mỗi thời, chúng ta đều phải nhỏ nước mắt khóc thương cho những người thân như thế. Thời trước 1975 thì là chuyện đấu tố, chuyện hộ lý, chuyện vào B, chuyện của nhà thơ Hữu Loan:
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tôi
Sau 1975 là thảm trạng vượt biên dành cho những phụ nữ Việt Nam hiền lành trên đường tìm tự do. Con số ước lượng là nửa triệu người Việt đã chìm sâu dưới lòng Biển Đông:
Em mặc làm chi màu áo trắng
Để anh nhìn thấy lại thêm thương
Em ơi sao nỡ chia lìa vội
Để lệ ai rơi mấy dặm đường
(Thơ Thụy Châu)
Rồi bây giờ là nạn bán gái ra nước ngoài dưới dạng nô lệâ lao động hay nô lệ tình dục. Ông đã gần 70 tuổi, sao ông lại hàm hồ khi đoạn trên thì viết “Tôi đi làm văn nghệ cũng như người ta đi vào nhà máy, vào hãng xưởng, ở tuổi gần 70 có còn nghĩ gì đến danh vọng nữa đâu. Đi làm để sống chờ ngày về hưu thế thôi; rồi đoạn dưới lại kết luận: Đối với chúng ta, văn nghệ có thể chỉ là giải trí. Nhưng với Cộng Sản thì không đơn giản như vậy. Bài bản lúc nào cũng bị kiểm duyệt. Nếu sứ quán VN có dính dáng xa gần đến show này thì họ có ngu gì mời ca sĩ Asia là những người chuyên hát nhạc lính? Họ có ngu gì mà mời tôi là tác giả hàng loạt truyện đả kích hoặc châm chọc họ?”
Thế thì ông giáo sư Việt Văn Đệ Nhất Cấp ơi, ông nghĩ sao về những “hiện tượng” mấy năm gần đây xãy ra cho giới nghệ sĩ ca nhạc vậy? Những “tác phẩm văn chương” của ông có “chống cộng” hơn ông Phạm Duy và tuyển tập Bầy Chim Bỏ Xứ của thập niên 80 thế kỷ trước không? Ai hát nhạc lính VNCH nhiều hơn các ca sĩ Chế Linh, Hương Lan? Ai đã đau khổ về vượt biên, về nỗi hạnh phúc khi được ca hát tự do ở hải ngoại hơn các ca sĩ Ý Lan, Thanh Tuyền? Không phải ho đều về nước trình diễn cả đấy sao? Nói gì đến những “ca sĩ Asia” mà ông đề cập đến. Đáng lẽ là một “người già 70” khi được mời “ca hát cho đời mua vui” trong ngày 30 tháng 4, ông phải là người nhắc nhỡ cho những “bầu show”, những ca sĩ trẻ tuổi hơn ông nhiều, biết về ngày này. Nhắc cho họ nhớ, nói cho họ biết về sự mất mát cuả riêng ông, về niềm đau của cả dân tộc Việt Nam khởi đi từ những ngày đau thương của lịch sử Việt Nam này. Ai có thể vui được trong ngày 30 tháng 4? Dù ở bên này hay bên kia chiến tuyến? Có nên nói cho thế hệ trẻ biết về tội ác của Hồ Chí Minh? Về những đại họa mà dân tộc Việt Nam đã gánh chịu từ khi Đảng CSVN thành lập. Những người Việt Nam có nên tổ chức liên hoan, ca nhạc cùng một thời điểm mà đảng cộng sản liên hoan? Riêng ngày 30 tháng 4 không chỉ quan trọng với Người Việt tị nạn cộng sản mà còn cả với những người ở miền Bắc Việt Nam. Đó là một ngày mà ngàn đời sau, lịch sử Việt Nam sẽ phải ghi lại:Đó là một ngày lịch sử đau thương cuả dân tộc Việt khi vì lợi ích chiến lược toàn cầu, Hoa Kỳ đã chọn một quyết định vô đạo đức khi quay lưng với một đồng minh mà trong 20 năm chiến tranh, họ đã đẩy ra làm thành trì để ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Hậu quả của cái “chiến lược” thua để thắng đó của người Mỹ đã gây di hại lâu dài cho đất nước Việt Nam của chúng ta không chỉ vài chục năm hậu chiến mà còn tồn tại nhiều thế hệ lâu hơn nữa.
Riêng đối với người Việt miền Nam mà Nguyễn Ngọc Ngạn là một thành phần thì chắc chắn đó không phải là ngày vui rồi. Tôi tin rằng đó là một thời điểm đánh dấu một “khúc ngoặc” của đời người – a turning point- mà tất cả Người Việt miền Nam cuả thời điểm 1975 đều hướng về đất nước dù chúng ta ở bất cứ nơi nào trên mặt đất này để tưởng nhớ lại những gì đã xãy ra cho chúng ta trong ngày tháng đó.
Tóm lại, khi thấy mình vẫn “ăn khách” thì xin ông Nguyễn Ngọc Ngạn cũng đừng vội kết luận rằng cái “thiểu số” phá “show” vì ganh tị với sự thành công “hoành tráng” của ông. Đa số người Việt thầm lặng sinh sống tại những phần đất tự do trên thế giới không ai bị trói tay, không ai bị lệ thuộc vào “đối phương“ tuyên truyền, không ai bị khích động bởi những phần tử “chống cộng quá khích” ồn ào trên bề mặt như ông nói đâu. Quan điểm không chấp nhận chế độ cộng sản của Người Việt nước ngoài phát sinh từ trái tim yêu nước mà không ai khuyến khích hay xóa bỏ được. Sống nơi xứ người, họ tiếp xúc với dân chủ, với tự do, họ không muốn “làm khổ nhau” hay “chế ra giặc để mà đánh” nhưng lại sẵn sàng nói lên sự thật, chống đối bất công, chống lại mọi chính sách vô nhân mà đảng cộng sản Việt Nam đã áp đặt cho toàn dân Việt từ khi chiếm trọn đất nước. Họ đã vạch mặt, đã chỉ tên những tên Việt gian len lõi trong cộng đồng đã và đang hành động có lợi cho cộng sản chỉ vì tiền. Những tên tuổi của bọn lãnh tụ cộng sản như Nguyễn Tấn Dũng, như Trương Tấn Sang, như Nguyễn Phú Trọng đã hiện nguyên hình thành những tên vô lại tham ô qua hình ảnh và sự việc phổ biến trên mạng lưới toàn cầu cho mọi người cùng biết.
Chẳng đặng đừng mà cộng đồng Người Việt hải ngoại mới phải có thái độ đối với những sai lầm về chính trị, về giá trị nghệ thuật mà ban tổ chức về những đêm văn nghệ đã vướng phải đó thôi. Chẳng đặng đừng mà Người Việt hải ngoại phải đối đầu với những “thiên tài” như Phạm Duy, như Trịnh Công Sơn. Nói gì đến “thiên tài” Nguyễn Ngọc Ngạn! Làm gì có chuyện ganh tị, đố kỵ với nghệ sĩ. Thích thì nghe, thì xem, không thích thì không nghe, không xem. Thế thôi. Trong cuộc phỏng vấn giữa ông và cô Hoàng Anh nói về quan điểm của ông trong việc tổ chức văn nghệ 30.4.2012 tại Berlin, ông Nguyễn Ngọc Ngạn cho biết ông không xử dụng Internet nhưng ông lại dùng Internet để phổ biến bài viết của ông, video clip về quan điểm của ông khi nhận lời làm MC cho show “Tình Ca Muà Xuân” của ngày 30 tháng 4, 2012 tại Berlin. Do đó, hy vọng rằng từ nay về sau, ông già 70 Nguyễn Ngọc Ngạn sẽ không làm văn nghệ với thái độ của “một công nhân đi vào nhà máy” mà ông đã thừa nhận trong bài viết của ông. Vì nếu văn nghệ chỉ là một trò giải trí thì khi bị cho là “xướng ca vô loài” có phải là quần chúng đã vơ đủa cả nắm giới nghệ sĩ trình diễn không, thưa ông?
Ôi, những ngày cuối tháng 4 định mệnh? Ông Nguyễn Ngọc Ngạn giải thích “nhập nhằng” về ngày 30 tháng 4, ngày đau buồn cuả lịch sử dân tộc Việt Nam với ngày 1 tháng 5, ngày Quốc Tế Lao Động nên Âu Châu có một cuối tuần nghĩ lễ, thuận tiện cho tổ chức show. Tôi muốn nhắc với ông là ngày 29 tháng 4 năm ngoái, 2011, cả nước Anh ăn mừng đám cưới của hoàng tử William thì tổng thống Obama của Hoa Kỳ lợi dụng lúc thế giới chú ý vào sự kiện này để ra lệnh tấn công sào huyệt, nơi ẩn trú của Osama Bin Laden. Ngày 1 tháng 5, 2011 ngày Quốc Tế Lao Dộng mà ông Nguyễn Ngọc Ngạn đề cập tới cũng là ngày tên trùm khủng bố bị tiêu diệt. Có những định mệnh trùng hợp “không may” mà ngay cả hoàng gia nước Anh và hoàng tử William cũng phải chấp nhận là những tin tức về cuộc lễ thành hôn của hoàng tử William đã phải ngưng ngay mặc dù hoàng gia Anh đã cố tình tổ chức trọng thể để xóa tan những mây mù tồn tại từ cái chết cuả công nương Diana 15 năm trước đây, vì cái chết của Osama Bin Laden. Giới an ninh tình báo thế giới đang chạy đua để bảo vệ an ninh vì “sợ” tổ chức Al Qeada sẽ làm một “điều gì đó” để trả thù cho cái chết của tên trùm khủng bố trong ngày Quốc Tế Lao Động này. Ngày 1 tháng 5 từ nay sẽ không chỉ là ngày Quốc Tế Lao Động mà với thế giới Hồi Giáo, đó là ngày mà Bin Laden Osama bị Hoa Kỳ xử tử, là ngày mà thế giới tự do phải tăng cường an ninh, phải đề cao cảnh giác vì khủng bố Al Qeada.
Tóm lại, không ai ganh tị với một nghệ sĩ cả. “Thiên tài” âm nhạc quá cố như Micheal Jackson hay Whitney Houston cũng chỉ khiến người ái mộ giọng ca của họ ngậm ngùi vì sự kết thúc bi thảm của những nghệ sĩ mất phương hướng khi đối diện với danh vọng và tiền bạc. Ngược lại, khi bị phê bình, chỉ trích thì một nghệ sĩ chân chính phải chấp nhận và sửa đổi. Nếu lời phê bình sai thì chắc chắn đám đông sẽ phản biện lại ngay để bảo vệ những nghệ sĩ mà họ yêu thích. Có bao giờ ông Nguyễn Ngọc Ngạn nhìn lại “20 năm làm văn nghệ” của mình và tự hỏi tại sao ông không được yêu mến và kính trọng? Từ sự không được yêu mến này dành cho ông, ông đã làm hại những nhà tổ chức show hơn là làm lợi cho họ. Cái “assett” Nguyễn Ngọc Ngạn có phải đã đến lúc trở thành một thứ “liability” cho những bầu show?
Dù sao, khi ông bầu Sĩ Nguyễn đã hủy bỏ việc “bán giàn” ca sĩ trong ngày 30 tháng 4 năm nay tại Berlin thì Người Việt hải ngoại cũng không nên khe khắt, vì “giận” Nguyễn Ngọc Ngạn mà “chém thớt” ông bầu “đột xuất” trẻ tuổi này. Từ nay, chắc chắn “bầu show” Sĩ Nguyễn sẽ nhớ đời bài học này. Bài học về cách sống và làm việc trong lòng dân tộc, đau nỗi đau của dân tộc thay vì chỉ biết chạy theo công việc, theo lợi nhuận của thương trường.
Đào Nương

Thư của một người trẻ gửi Mc Nguyễn ngọc Ngạn


Kính thưa Chú Nguyễn Ngọc Ngạn…


Cháu là Fan bất đắc dĩ của Chú, bất đắc  là bởi vì sau một ngày làm việc mệt nhọc Mẹ của cháu ưa thích ngồi trong góc phòng khách để xem phim Việt Nam: Asia, Paris By Night, Vân Sơn… Thương nỗi đơn độc, nhớ nhà của Mẹ ở xứ người, cháu cố gắng dành thì giờ coi chung cho Mẹ vui, nhờ vậy mà cháu giỏi tiếng Việt, yêu thương quê mình hơn và cũng biết chú MC Nguyễn Ngọc Ngạn. 
Cách đây hai ngày Mẹ cho cháu coi đoạn Video phỏng vấn Chú do cô Hoàng Anh thực hiện, đến đoạn Chú Ngạn xin lỗi cô Hoàng Anh và giới trẻ, cháu khoái qúa muốn cười, nhưng Mẹ cháu bảo: “Chú Ngạn có tài soạn kịch và diễn kịch”, riêng Bà Nội cháu thì bảo: “Chú Ngạn đạo đức giả”. Cháu rất shock trước những phản ứng gắt gao của Bà và Mẹ. 
Tối hôm đó cháu thức khuya coi đi coi lại, và hôm nay viết thư này bày tỏ ý tưỏng của mình với Chú:      Thứ 1: Cháu phục sự nhận xét nói trên cuả Mẹ, người ta coi thì biết là dàn cảnh đó Chú Ngạn. 
     Thứ 2: Cuộc phỏng vấn nói về đề tài 30 tháng tư của Dân Tộc mình mà cháu có cảm tường như Chú Ngạn là người  ngọai quốc nào đó đang nói chuyện bàng quan của người khác chứ không phải là Ngày Quốc Hận của mình, Ngày Đại Tang của Dân Tộc. 
     Thưa Chú Ngạn, ngày đó cũng là Ngày Đại Tang của gia đình cháu, vì trong những ngày hấp hối của Miền Nam Việt Nam, Ba của cháu cũng là Chiến hữu của Chú đã hy sinh nằm xuống để bảo vệ lý tưởng của một Quân Nhân: Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm. 
     Chú bảo long weekend cũng không đúng, vì ngày đó xứ Đức của cháu người ta phải đi làm, đi học. 
     Thứ 3: Những lời Chú nói trong cuôc PV Cháu có cảm tưởng  như Chú rành rọt, nghiên cứu và quảng cáo cho cơ quan của CS hơi nhiều, vì Chú đã nhắc đi nhắc lại. 
     Thứ 4: Chú bảo không xài internet, và cho rằng Internet là Rác. Cháu ngạc nhiên và khâm phục Chú quá chừng, một người không xài Internet mà sao chuyện gì Chú cũng biết, chuyện trên trời dưới đất, biết hơn cả người xài Internet chuyên nghiệp . 
     Còn chuyện Rác thì theo cháu nghĩ cũng do mình, nếu mình lấy tâm hồn Rác mà xử dụng Internet thì mình trở thành người xấu, còn nếu mình có ý tưởng xử dụng Internet để học hỏi cầu tiến để vươn lên thì chắc chắn sẽ hữu dụng vô cùng đó Chú Ngạn ạ. 
     Thứ 5: cháu nhận xét Chú Ngạn đã có lòng từ bi, bác ái không đúng chỗ khi Chú thương và tiếc những bầu show phải chịu tốn kém bỏ show 30 Tháng Tư, chú cũng dư biết họ cũng làm bussiness mà, họ chỉ biết tiền và đâu có nghĩ đến nỗi tang thương của người khác, ngoài ra có người là đại gia đó Chú Ngạn à. 
     Khi coi đến đoạn này cháu tự hỏi: Tại sao Chú Ngạn không nói một lời thương tiếc những Chiến Sỹ Viêt Nam Cộng Hoà đã hy sinh nằm xuồng để cho Chú được có đời sống Tự Do Dân Chủ An Lành ở Miền Nam Việt Nam kể từ khi Chú di cư lánh nạn Cộng sản vào năm 1954? 
     Tại sao chú không một lời thương tiếc cho những đồng bào ruột thịt cuả mình đã chết bởi ngày 30 Tháng Tư 1975 ở Quê Nhà, trong đó có Chiến Hữu, đồng nghiệp và Thím Ngạn cùng con trai của Chú?. 
     Tại sao chú không thương tiếc bao người Phụ Nữ Việt Nam bị hải tặc hãm hiếp, mang đi mất tích hoặc bán cho động mãi dâm, có người đã trở thành điên loạn mà cháu đã gặp trong các bịnh viện tâm thần ở khắp nơi?. 
     Tại sao Chú không thương tiếc cho những những tù nhân lương tâm hiện nay vẫn bị tù tội, và thực tế nhất có nhiều thanh niên trẻ tuổi ở Quê Nhà như cháu ăn chưa no lo chưa tới nhưng muốn bày tỏ lòng yêu nước đã bị giam cầm, đánh đập tra khảo coi như đã mất hẳn tương lai? 
Tại sao và tại sao (??) cháu hoàn toàn không hiểu ra đó Chú Ngạn à! 
      Thưa Chú Ngạn, bà Nội của cháu dạy rằng: Lòng Từ bi , bác ái không đúng chỗ sẽ bị lợi dụng, làm thiệt thòi và làm gương xấu cho người khác. 
     Thứ 6: Mẹ cháu nói chú Ngạn có tinh thần vọng ngoại, không trung thực khi phê bình về Văn hoá Việt-Nam, vô tình Chú đã bôi bác Cội Nguồn Dân Tộc trước người trẻ như chị Hoàng Anh và chúng cháu mà đáng lẽ ra chú Ngạn phải khuyên nhủ chúng cháu nên có một tấm lòng Tri Ân. Thực tế trước mắt là nhờ có Văn hoá Việt Nam nên Chú Ngạn có thể làm MC để kiếm cơm thoải mái ở xứ người, trở nên giàu có, được nhiều người mến mộ, riêng cháu thì rất hãnh diện nhờ Văn Hoá Việt Nam đã trở thành một thanh niên hữu dụng ở đất nước tạm dung này. 
     Thứ 7: Bà nội cháu muốn nhắc với Chú rằng: Ngày xưa khi chúng ta liều chết bỏ Quê hương ra đi vượt biên vượt biển, chúng ta bị lăng nhục là ma cô, đĩ điếm, ngày nay thì Việt kiều yêu nước, khúc ruột ngàn dặm. Xin Chú đừng tin vào những lời ve vãn đó bởi vì với bản chất “vắt chanh bỏ vỏ” cộng sản chỉ xử dụng người trong một thời gian nào đó lúc cần. 
Ở trong nước có biết bao Bà Mẹ liệt sỹ, đảng viên có công với cách mạng, khi hết xài họ sa thải, tịch thu nhà cửa, “xử lý” không thương tiếc như Dân Oan đầy đường đó Chú Ngạn à, rồi đến vụ chùa Bát Nhã Lâm Đồng của Thiền sư Nhất Hạnh mà ai cũng biết là từng ủng hộ cộng sản, rồi đến ông Tướng tàu bay, lúc sống quay lưng với nỗi đau của đồng bào, quay lưng với vận mạng nguy vong của dân tộc, ông ấy đã hạ mình hoà hợp hòa giải, và sau khi chết chỉ một nắm tro tàn cũng không được công sản cho phép an nghỉ ở Quê hương. 
     Thứ 8: Mẹ cháu có nhận định rằng: Trong cuộc phỏng vấn thay vì Chú nói một lời cảm thông với khán giả, là một nhà Mô Phạm, Chú Ngạn đã thiếu tinh thần phục thiện, thiếu tinh thần “Tiên trách hỷ, hậu trách bỉ” lại còn coi thường khán giả và lên tiếng dạy đời những người đóng góp dù rằng không được nhẹ nhàng, chú Ngạn với lòng tự hào là nhà giáo, nhà làm Văn hóa và với sự ăn nói lưu loát của nghề MC, Chú đã biểu diễn một màn xin lỗi cô Hoàng Anh và giới trẻ chúng cháu về khuyết điểm không đáng của người khác. 
Dựa trên cách xử sự này thì cháu nghĩ rằng Chú Ngạn cũng đã nợ tuổi trẻ Việt Nam chúng cháu một lời xin lỗi, vì Chú Ngạn đã quên câu UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN. 
Kính, Trần Hưng Quốc

Hai Ngày 2 Cuộc Họp Báo Quan Trọng.

Thanh Phong/SGN

 

WESTMINSTER. Hai ngày Thứ Năm và Thứ Sáu 26, 27.4.2012 có hai cuộc họp báo quan trọng diễn ra tại Câu lạc Bộ Báo Chí, nhà hàng Zen trên đường Bolsa, Westminster.

. Họp Báo Khẩn Của Uỷ Ban Tổ Chức  Quốc Hận : Do cô Nguyễn Thu Hà làm Trưởng Ban, tổ chức buổi họp báo khẩn vào chiều Thứ Năm ngày 26.4.2012 về hai vần đề chính là vụ ông Lê Khắc Lý tiếm đoạt một số sinh hoạt của Ủy Ban Tổ Chức Quốc Hận làm của mình, và xác định việc Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài ủng hộ tổ chức nào trong lễ Tưởng Niệm Quốc Hận năm nay.

Trong buổi họp báo, ngoài Ủy Ban Tổ Chức Tưởng Niệm Quốc Hận còn có niên trưởng Cổ Tấn Tinh Châu và phu nhân, chiến hữu Nguyễn Văn Ức và phu nhân, các ông Nguyễn Tấn Lạc, Trần Trọng An Sơn, Đặng Thanh Long, Phát Lưu, Nguyễn Phục Hưng, bà Trần Thanh Hiền và 3 ông Nguyễn Quang Huy, Frank Fry và ông Craig Mandeville thuộc Ủy Ban Tượng Đài Chiến sĩ, một số đồng hương và các cơ quan truyền thông.

Cô Thu Hà nêu lý do: “Sở dĩ có cuộc họp báo khẩn hôm nay vì ông Lê Khắc Lý đã tiếm danh các sinh hoạt của Ủy Ban Tổ Chức do cô làm Trưởng Ban làm của mình, đậy là hành động không chấp nhận được của một ông cựu Đại tá vừa được suy cử làm Chủ tịch cái gọi là Cộng Đồng Người Việt, Nam California”.

Ông Phan Tấn Ngưu, Phó Trưởng Ban Tổ Chức cho biết, ngay sau khi thông báo của ông Lê Khắc Lý phổ biến trên ba nhật báo tại địa phương, nhiều anh em trong Liên Hội Cựu Chiến Sĩ đã kịch liệt phản đối, gọi điện thoại cho ông và nói “Nếu có ông Lê Khắc Lý anh em sẽ không tham dự”, vì thế chúng tôi phải tổ chức cuộc họp báo này để nhờ các cơ quan truyền thông phổ biến cho đồng hương và các hội đoàn biết việc làm của ông Lê Khắc Lý và yên tâm tham dự các sinh hoạt trong dịp 30/4.

Ông Nguyễn Văn Cừ, Chủ tịch Hội Đồng Giám Sát Cộng Đồng Người Việt Los Angeles cũng lên tiếng trong buổi họp, ông cho biết “Cộng Đồng Los Angeles chúng tôi rất bất ngờ và phẫn nộ, yệu cầu ông Lê Khắc Lý hãy cải chính những gì đã thông báo với Ủy Ban Tổ Chức do cô Thu Hà làm Trưởng Ban và cả với Cộng Đồng chúng tôi, cũng mong ông Lê Khắc Lý nên làm việc minh bạch, đừng để tuổi trẻ lánh xa ông”. (Cộng Đồng Los Angeles sau đó phổ biến một Thông Cáo Báo Chí đề ngày 26.4.2012 có chữ ký của ông Nguyễn Long, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Los Angeles, yêu cầu ông Lê Khắc Lý phải giải thích sự việc này trước công luận và ngưng ngay sự kê khai sinh hoạt của Cộng Đồng Los Angeles ra khỏi thông báo của ông.

Một phụ nữ tên Lê Trần Nguyễn phát biểu với thái độ giận dữ “Sau khi coi các tờ báo, tôi thấy ông Lê Khắc Lý giở trò “đánh lận con đen”.  

Ông Craig Mandeville phát biểu và xác nhận Ủy Ban Tượng Đài có làm việc với Ủy Ban Tổ Chức Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận do cô Thu Hà làm Trưởng Ban, Ủy Ban Tượng Đài mong muốn mỗi năm chỉ có một tổ chức lễ Tưởng Niệm mà thôi, ông không muốn có đối đầu, tranh chấp chính trị và năm nay, ông xác nhận ngày lễ Tưởng Niệm do Ủy Ban đây tổ chức vào Thứ Bảy ngày 28.4.2012 là chính, còn ngày 29.4.2012 lễ kỷ niệm 9 năm thành lập Tượng Đài Việt Mỹ là phụ. Ủy Ban Tượng Đài muốn dành sang năm sẽ tổ chức thật long trọng lễ kỷ niệm 10 năm xậy dựng Tượng Đài.

Nhà văn Nguyễn Quang Huy phát biểu xác nhận ông được Ủy Ban Tượng Đài cử làm đại diện để liên lạc với ban tổ chức do cô Thu Hà làm Trưởng Ban và đã tham dự các buổi họp bàn việc tổ chức Chuỗi Sinh Hoạt Tưởng Niệm QH. LS. Nguyễn Xuân Nghĩa, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện Cộng Đồng đã dịch lại bằng Anh ngữ cho hai vị khách người Hoa Kỳ biết sự việc vừa xẩy ra. Sau đó là phần trả lời một số câu hỏi của giới truyền thông.

Nhà báo Lý Kiến Trúc điều hợp chương trình và cho biết, Câu Lạc Bộ Báo Chí của gia đình ông bảo trợ cuộc họp báo và cũng sẵn sàng bảo trợ cuộc họp báo của ông Lê Khắc Lý nếu ông Lý muốn.

. Buổi Họp Báo Của Dân Biểu Jose Solorio:

Cũng tại Câu Lạc Bộ Báo Chí của nhà báo Lý Kiến Trúc, sáng Thứ Sáu 27.4.2012, Dân biểu Jose Solorio đã mở cuộc họp báo để Tuyên Dương các người Mỹ gốc Việt vào dịp Tháng Tư Đen và mừng Nghị Quyết ACR 138 đã được Quốc Hội Tiểu Bang thông qua.

Trước khi trao bằng vinh danh cho một số vị, Dân biểu Solorio nói: “ Năm nay đánh dấu lần thứ 37 của Tháng Tư Đen. Tôi thấu hiểu tầm quan trọng để tưởng nhớ nỗi đau buồn và hy sinh của các gia đình Việt Nam khi đã phải rời bỏ quê hương của họ, và những chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu và hy sinh để bảo vệ cho tự do dân chủ của Việt Nam. Tôi cũng muốn nhấn mạnh và ghi nhận những đóng góp giá trị của người Mỹ gốc Việt và sự hội nhập nhanh chóng của họ đã tạo nên những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế của tiểu bang California nói riêng và xã hội của chúng ta nói chung.”

Tiếp theo, Dân Biểu Jose Solorio đã trao bằng Tuyên dương cho cô Lynn Bạch Huệ (Hội Trưởng Hội Ái Hữu Nha Trang Khánh Hòa, Trưởng Ban Tổ Chức Lễ Giỗ Quốc Tổ 2012 vừa qua); anh Billy Lê (Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên); Cựu Thiếu Tá Cảnh Sát Phan Tấn Ngưu (Chủ Tịch LHCCS); Bác sĩ Tâm Nguyễn (Chủ tịch Phòng Thương Mại ); bà Dina Nguyễn (Nghị Viên Garden Grove); ông Ken Khanh Nguyễn (Đại sứ Thiện Chí của TP. Santa Ana).

Nghị Quyết ACR 138 do Dân Biểu Jose Solorio soạn thảo và đã được Quốc Hội thông qua, công bố Tháng Tư là tháng Tưởng Niệm Quốc Hận của người Việt Quốc Gia khắp nơi trên thế giới, và lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng sự đoàn kết của người Mỹ gốc Việt. Trước đây, vào năm 2011 Dân Biểu Jose Solorio cũng đã sọan thảo Nghị Quyết ACR 40 và được lưỡng viện Quốc Hội thông qua nhằm vinh danh những người Mỹ gốc Việt tiêu biểu ở tiểu bangCalifornia.

Các vị được trao bằng Tuyên Dương đều ngỏ lời cám ơn Dân Biểu Jose Solorio. Sau đó chụp hình lưu niệm.

Dân biểu Jose Solorio là Chủ tịch Uỷ Ban Hạ Viện về Bảo Hiểm và đồng thời là thành viên Ủy Ban Hạ Viện về Ngân Sách và Giao Thông. Ông là Dân biểu đại diện địa hạt 69 gồm các thành phốAnaheim,Garden GrovevàSanta Ana.

Muốn biết về thông tin của DB xin vào trang nhà: www.assembly.ca.gov/solorio. Muốn liên lạc với Dân biểu xin gọi cô  Kim Nguyễn, Thư Ký văn phòng số (714) 939-8469 –Cell: (714) 393-7029.

Chưa Cuốn Theo Chiều Gió


Vi Anh
Chắc hầu hết người Mỹ gốc Việt thế hệ thứ nhứt,nhì, ba đều có dịp đọc sách hay xem phim “Cuốn Theo Chiều Gió”, ấn bản tiếng Việt, Pháp, hay Anh. Cuộc nội chiến đẫm máu giữa hai miền Nam Bắc Hoa kỳ vì ý thức hệ tự do, giải phóng nô lệ đã gây ra hàng trăm trận đánh nồi da xáo thịt. Tổn thất sinh mạng tài sản lớn nhứt trong lịch sử Mỹ. 
Một tổng thống tài danh Mỹ, Ô Lincoln, bị ám sát chết. 620,000 người tử thương; hàng triệu người bị thương. Tài sản thiệt hại vô số kể. Kéo dài 4 năm trời. Kết cục Miền Nam thua, Miền Bắc thắng
 Nhưng không bao lâu sau chánh quyền Mỹ thống nhứt được đất nước và lòng dân để phát triển và dần dần thành một siêu cường thế giới. Hậu thế đánh giá đó là nhờ đức độ của những người chỉ huy quân đội và lãnh đạo quốc gia lúc bấy giờ và sau này, và ý thức văn minh cao, tinh thần xây dựng dân tộc mạnh của nhân dân Mỹ. 

Trong khi đó cuộc chiến tranh ý thức hệ của Miền Bắc và Miền Nam VN đã kết thúc 37 năm rồi, mà vết thương trong tim người Việt ở hai miền chưa lành. Nỗi buồn chiến tranh, nỗi đau chia đôi đất nước, vết thương chia rẽ đồng bào, xung đột ý thức hệ, cơn say chiến thắng, tủi nhục thua trận bị đọa đày — chưa “cuốn theo chiều gió”.

Trái lại CS qua hành động của người say sưa chiến thắng,  góp gió thành trận bão hận thù, “xuyên suốt” đòi quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa trả nợ máu xương.  “Phân biệt đối xử”, âm mưu xóa sạch những gì còn lại của quân dân Miền Nam, nghĩa trang, sách vở, lối sống tự do.

 Chẳng những CS Hà Nội tiếp tục gây hấn với người sống sót – đàn áp tôn giáo, bỏ tù các lãnh tụ tinh thần và chánh trị mà còn gây hấn với người chết – đập phá mồ mả các nghĩa trang Quân Đội chết trong chiến tranh mà còn vận động đập phá bia tưởng niệm người không chịu nổi CS vượt biên tìm tự do bằng thuyền nang vượt đại dương chết trên biển cả. 

Cho nên sau 37 năm thống nhứt đất nước mà không thống nhứt được lòng dân một chút nào, một ly nào. 

Người Mỹ thống nhứt đất nước và lòng dân được là nhờ hai bên dù đã đánh nhau chí chết nhưng vẫn tương kính nhau và biết rõ không có vấn đề thua thắng trong một cuộc tranh chấp, xung đột của một dân tộc, một quốc gia. Và quan trọng nhứt không trả thù, không đòi nợ máu xương của nhau. Người Mỹ giải quyết vấn đề theo chiều hướng đối lập xây dựng, đối kháng tương sinh, cộng tồn, khác với CS theo tương quan ai thắng ai, một mất một còn. Một số sự kiện lịch sử đã chứng minh điều đó. 

Về Quân Đội, khi Phủ Tổng Thống Miền Nam ở Richmond thất thủ, bộ tham mưu của Tướng Lee thấy quân số hao hụt nặng, tiếp vận kiệt quệ như Quân Lực VNCH, đề nghị phân tán quân đội dựa vào dân để trường ký kháng chiến. Tổng Tư Lịnh Quân Lực Miền Nam là danh tướng Lee từng là Chỉ huy trưởng Trường Võ bị West Point nổi danh, quyết định chấp nhận một điều khó làm nhứt đối với một tướng lãnh: là đầu hàng. Không cứu giữ nước được thì cứu giúp quân dân. Ông gởi lá thư riêng cho Tướng Grant, Tư lịnh Quân Đội của miền Bắc yêu cầu thu xếp buổi họp mặt.

 Tướng Grant đón nhận thư và tiếp Tướng Lee như người đồng đội, ngang hàng, ra quân lịnh phải tuyệt đối tôn trọng Tướng Lee, đúng lễ nghi quân cách, quân phong, quân kỷ. Trưa ngày lịch sử 9 tháng 4 năm 1865, khi Tướng Lee và một đại tá tùy tùng cỡi ngựa đến, quân nhạc Miền Bắc nổi lên, sĩ quan quân lễ đón đưa vị Tư Lịnh Miền Nam vào nơi họp. Hoàn toàn khác với mấy người Bộ Đội CS Bắc Việt ăn nói ngang tàng, hăm he, bắt buộc vị Tư Lịnh Tối cao Quân lực Miền Nam VNCH là Tướng Dương văn Minh đầu hàng dù trước đó Tướng Minh đã ra lịnh buông súng chờ bàn giao. 

Hai vị Tướng Nam và Bắc của Mỹ thỏa thuận. Quân Miền Nam chỉ giải giới và hoàn toàn tự do về nhà làm ăn, được mang theo lừa ngựa vì đó là tài sản của người “lính công dân” Miền Nam đem theo khi nhập ngũ. Thỏa thuận này không ghi vào văn tự vì không hợp quân luật xem đó là quân dụng phải giao nộp. Nhưng Tướng Grant thi hành trên thực tế hết sức nghiêm chỉnh. Hoàn toàn không có tù binh, không có cải tạo tập trung, không tịch thu tài sản riêng, không đối xử theo lý lịch gia đình. Lịch sử Mỹ gọi thỏa thuận này là thỏa thuận của những người quân tử (The Gentlemen’s Agreement).

Còn đối với tử sĩ, hai bên đều tôn kính, xem việc đi lính là nghĩa vụ của công dân của một đất nước, hy sinh cho đất nước là người con yêu của Tổ Quốc và Tổ quốc ghi ân. Đất nước, Tổ quốc là của chung không có màu sắc phe đảng, địa phương, khác với CS Hà Nội sơn lên Tổ Quốc VN thành Tổ Quốc Xã Hội Chủ nghĩa đó lòm.

Nghĩa Trang Quốc gia Arlington của nước Mỹ thống nhứt dành một khu tương xứng cho tử sĩ Miền Nam với tượng đài tưởng niệm hẳn hoi và long trọng – Confederate Memorial. Khắp các tiểu bang Miền Nam, các nghĩa trang lớn nhỏ đều để y. Cây cờ gạch chéo biểu tượng của Miền Nam vẫn phất phới trên các phần mộ của những người chết để bảo vệ.

Và đối với chánh quyền thống nhứt, tại nơi trang trọng nhứt của Quốc Hội Mỹ, dựng lên Tượng đài Bà Mẹ Chiến sĩ Miền Nam đã có con trai hy sinh cho cuộc chiến với bài thơ đại ý tôn vinh những người đã chết vì nhiệm vụ đối với đất nước là giá trị trên hết.

Thế cho nên, với tâm thức và tinh thần đó, trong vấn đề Chiến tranh và hậu Chiến tranh VN, người Mỹ thường khuyên hãy để quá khứ ra sau, hướng về tương lai phía trước, cái gì qua cho nó qua luôn. 

Nhưng tiếc thay CS Hà Nội không nghĩ và làm như vậy. CS Hà Nội cư xử như những tự thực dân (auto-clonialists) đối với người ở lại, coi Miền Nam nhu thuộc địa khai thác, thuộc địa di dân của CS Hà Nội, nhân dân Miền Nam là nhân dân bị trị, xóa sạch lối sống Miền Nam CS gọi là “tàn dư Mỹ Ngụy” Trồng lên đầu dân quân cán chính Miền Nam một bản án không cần xét xử: Ngụy. Bắt quân dân cán chính đi cải tạo tập trung, tịch thu tài sản, nhà cửa. Đổi tiền, đánh tư sản, phân loại cho đi kinh tế mới, cấm cửa con của “Ngụy quân Ngụy quyền” vào đại học, CS gọi là “ưu tiên 13”. Triệt hạ đảng phái chánh trị, lũng đoạn các tôn giáo; ngần ấy là những “bài bản” chánh CS Hà Nội làm với tính toán, kế hoạch hẳn hoi. 

Đối với người di tản tỵ nạn CS, CS Hà Nội chỉ cần tiền, cần sức học của họ, chiêu dụ họ  như người “chiêu hồi”, đối xử như người chiêu hàng, chớ không phải là người đồng bào đồng đẳng

Không thể có hòa giải hòa hợp với người chiến thắng khi họ còn xem người kẹt bị thua dưới cái nhìn “ta và địch.” Không thể có hòa giải hòa họp giữa kẻ cướp với người bị cướp. Không có hòa giải hòa họp bằng đầu gối, theo kiểu xin cho. Công bình, bình đẳng, tương nhượng, thỏa hiệp, thông cảm là đạo người ta ở đời –  đối với cá nhân, đoàn thể cũng như quốc gia. 

CS Hà Nội không chấp nhận chân lý và đạo lý đó, bên ngòai dùng mỹ từ để tuyên truyền chiêu dụ, nhưng bền trong vẫn coi là “lực lượng thù địch”. Thế cho nên suốt 37 năm, CS Hà Nội thống nhứt được đất nước mà không thống nhứt lòng dân VN, ở Nam, ở Bắc, ở Trung và ở Hải Ngoại. Con tàu Thống Nhứt của CS Hà Nội chạy hàng vạn chuyến, hàng muôn dặm và mà lòng dân không xích lại gần CS được một ly nào./.

CÂU CHUYỆN THỜI SỰ NGÀY 30-4-2012 – TƯỞNG NIỆM 30-4-1975

VŨ QUANG NINH   

30/4 là kỷ niệm đau thương thê thảm cho cả một dân tộc. Những diễn biến trong ngày 30/4/1975 làm cho lòng dạ chúng ta xót xa vừa tủi nhục, vừa buồn khổ. 37 năm đã trôi qua, nhưng những sự kiện 30/4 vẫn sống động kinh hoàng trong tâm trí chúng ta như mới xảy ra. Chính ngày 30/4/75, Tổng Thống Hoa Kỳ Gerald Ford loan báo “đã chấm dứt một chương trong lịch sử Hoa kỳ”. Còn ngoại trưởng Kissinger nói là “đã hoàn tất cuộc di tản công dân Hoa kỳ khỏi Việt Nam”. Ông ta gián tiếp nhìn nhận đã dâng cho Cộng sản Bắc Việt Miền Nam Tự do, đồng thời không nhìn nhận một chính phủ lưu vong của Việt Nam Cộng Hòa… Đó là số phận của một nước nhược tiểu nhờ cậy vào một đồng minh mà vì quyền lợi của mình chính đồng minh đó đã nhẫn tâm thí 58,000 quân nhân của nước mình, gần 300,000 quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa và cả triệu thường dân vô tội trong cuộc chiến, rốt cuộc vẫn thua nhục nhã trong ván cờ quốc tế với Cộng sản Hà nội điếm đàng và lừa dối.

Trong khi đó, quanh thủ đô Saigon những trận đánh quyết liệt kinh hoàng, những đại lộ ngập máu đầy xác người và ngoài bờ biển những đoàn người chen đẩy nhau xuống tàu, tiếng quay cuồng của trực thăng xô nhau đâm xuống biển, những kêu gào la hét thê thảm của hàng trăm đầu người nhấp nhô rồi chìm dần vào lòng đại dương. Tất cả như mới đây, rồi Quê Hương ngập sâu vào đêm đen của quỷ dữ với hận thù, hành hạ, tù đày, khổ sai nghèo đói. Và những dãy lều tạm trú trên xứ người, những đoàn người tỵ nạn buồn tủi đứng dài chờ phát cơm, và rồi phân tán đi khắp thế giới.

37 năm đã qua, hiện nay đại đa số đồng bào trong nước vẫn bị bịt miệng, bịt tai, bịt mắt, sống lạc hậu dưới một chế độ đảng chủ, đảng quyền, đảng trị của Cộng sản và trên 3 triệu đồng hương vẫn lưu vong rải rác toàn cầu.

Nhưng, từ những tan vỡ mất mát đau thương nhục nhằn đó, chúng ta đã vươn lên. 37 năm chịu đựng và làm việc. 37 năm vất vả cho thế hệ con cháu lớn lên thành đạt! Và bây giờ chúng ta đã biến những khu hoang vắng thành những đô thị nhỏ thịnh vượng như Lion Plaza tại San Jose, Little Saigon tại Orange County, Bellair South West tại Houston.

Năm nào kỷ niệm 30 tháng Tư, Cộng đồng người Việt khắp nơi đều tổ chức hội luận, biểu tình, diễu hành. Biểu dương ý chí tranh đấu và lòng căm phẫn Cộng sản là những công tác không thể thiếu. Đặc biệt 30/4 năm nay, cũng như đã từ mấy năm qua, cư dân Nam California lái xe quanh khu vực Little Saigon rất phấn khởi khi nhìn thấy những Lá Cờ Vàng óng ả tung bay cạnh Quốc kỳ Hoa Kỳ, dọc theo những con đường chính Bolsa, Brookhurst, Magnolia.

Ngày 30/4/1975, cờ vàng của Việt Nam Cộng Hòa đã phải từ từ hạ xuống cùng với nước mắt chảy dòng trên má của các chiến hữu Quân lực của chúng ta, ở trên các chiến hạm ngoài khơi, tại các doanh trại Quân đội, và những giọt lệ đau xót trong trái tim mỗi người. Chúng ta đã cuộn cờ vàng thân yêu vào trong lòng, ấp ủ mang đi khắp thế giới và bây giờ lại được bung ra phất phới giữa lòng các đô thị Hoa kỳ, cũng như tại Úc Châu, Âu Châu. Đó chẳng là niềm hãnh diện sao? Vì không phải chúng ta mừng ngày Quốc hận mà cờ vàng tượng trưng cho sự hiện diện của người Việt Quốc Gia Tự Do, Dân chủ và Nhân quyền, chống lại Cộng sản. Đặc biệt 30/4 năm nay, chúng ta dành để tưởng niệm hằng trăm ngàn quân cán chính của chúng ta đã hy sinh để bảo vệ miền Nam tự do đã tuẫn tiết để không sa vào tay giặc. Chúng ta cũng không quên tưởng niệm đến hằng ngàn đồng bào ruột thịt của chúng ta đã chết chìm trong lòng biển cả vì hai chữ tự do. Cũng là dịp nhắc nhở chúng ta cái giá của tự do để chúng ta trân quý và tiếp tục đòi hỏi tự do cho đồng bào trong nước vì tự do là lẽ sống, là quyền bẩm sinh đính liền với bản tính con người.

Tưởng niệm 30 tháng 4 là để ghi tâm khắc cốt tội ác dã man của Cộng sản. Mặt khác, tưởng niệm 30 tháng 4 năm 1975 để chúng ta ôn lại những bài học quá đắt giá. Nước ta là thân phận của một quốc gia nhược tiểu đã bị các siêu cường xử dụng vào những chiêu bài chính trị quốc tế của họ. Ở vào một vị trí chiến lược ở Đông Nam Á, Đất Nước chúng ta đã bị quay cuồng trong những cơn lốc của ảnh hưởng quyền lực ngoại bang. Các lãnh tụ của chúng ta đã không đủ bản lĩnh để đứng vững để xoay đảo tình thế lợi ích cho dân tộc. Chúng ta oán trách đồng minh đã tháo chạy bỏ rơi chúng ta nhưng chúng ta cũng phải tự trách mình. Anh, chị, tôi, chúng ta mỗi người, tùy theo điạ vị lúc đó đều phải tạ tội trước dân tộc, đều phải nhận một phần trách nhiệm của mình.

Một bài học khác nữa là chúng ta thiếu thống nhất ý chí, từ trên xuống dưới không một lòng hợp nhất. Bài học bẻ đũa và câu ca dao “ba cây chụm lại nên hòn núi cao” không được thể hiện trong cách hành xử. Những thế lực chính trị đã phân hóa hàng ngũ quốc gia ở mọi tổ chức, mọi tập thể. Họ chia để dễ sai khiến, dễ mua chuộc và làm cho hàng ngũ chúng ta dễ tan rã.

Tưởng niệm tháng Tư đen, tưởng niệm ngày Quốc Hận, chúng ta không chỉ đau đớn buồn sầu khóc than cho dĩ vãng, nhưng chúng ta cùng nhau cố gắng giữ gìn không sa vào vết lầy lội cũ, nhất là trong giai đoạn hiện nay đoàn kết là quan yếu nhất, là khẩn thiết nhất

Tuần Lễ Đen Của TT Obama

 

Vi Anh
Người Mỹ gốc Việt thường gọi tháng Tư là “Tháng Tư Đen”. TT Obama là người Mỹ gốc Phi châu, cũng bị “văng miểng” trong Tháng Tư Đen thứ 37 này. Tuần lễ thứ ba của tháng Tư  năm 2012 này là tuần lễ có vẻ đen của TT Obama. 

Tội cho Ông trong thời kỳ tranh cử, quan viên  trăm họ, bàn dân thiên hạ đang nhìn Ông, Ông lại rơi vào  hòan cảnh  nói theo người Mỹ gốc Việt là “quít làm cam chịu” về những tai tiếng “ham vui, thích của lạ” của những  nhân viên của Sở Mật vụ lo bảo vệ Ông trong chuyến Ông đi nước Columbia dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Châu Mỹ lần thứ 6. 

Và chuyện của một số quan chức của Cơ Quan Dịch Vụ Tổng Quát Hoa Kỳ lạm dụng công qũy tổ chức ăn chơi mút mùa lệ thủy ở Las Vegas. 

Và chuyện báo lá cải loan tin Bà Ngọai Trưởng Hillary Clinton bị bắt gặp nhảy múa tại vũ trường cùng ở Cartagena (Colombia) trong chuyến đi của tổng thống. 

Ba xôi nhồi một chõ, ba xì can đan nhập lại thành một dư luận chấn động liên tiếp, đây không ít bối rối cho TT Obama vì mũi vại, lái phải chịu đòn.

Một là vụ xì căn đan mười một nhân viên mật vụ và quân nhân tiền trạm bảo vệ TT Obama đi hội nghị ở tại Colombia. Những người này vào ngày trước ngày TT đến họp ham vui, khóai của lạ, dẫn gái mãi dâm lên phòng, bị gái đòi tiền nhiều hơn giá đầu nậu ở vũ trường đã thỏa thuận là 60 USD, cảnh sát đến lập biên bản, gởi tòa đại sứ, đổ bể lớn. 

TT Obama tuyên bố phải điều tra nghiêm túc. Cơ Quan Mật Vụ cấp tốc triệu hồi 11 nhân viên mật vụ tiền trạm này về Mỹ. Một trong hai cấp bậc chỉ huy của tóan bị sa thải, một người xin nghỉ hưu, và người thứ ba giữ chức vụ nhỏ hơn đã từ chức. Đại Tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Ban Tham mưu Hỗn hợp Hoa Kỳ phải họp báo tại Ngũ Giác Đài cho nhóm nhân viên mật vụ và quân nhân này đã làm cho “cấp chỉ huy thất vọng”, làm chệch hướng dư luận về tầm quan trọng của cuộc họp của Tổng Thống. Còn Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon Panetta  khẳng định những người liên hệ trong vụ tai tiếng này sẽ buộc phải chịu trách nhiệm về hạnh kiểm của họ. Mía sâu có đốt, nhà dột có nơi, TT Obama vẫn bày tỏ niềm tin đối với cơ quan Mật Vụ có uy danh lịch sử trong việc bảo vệ yếu nhân này. 

Chưa đủ, Quốc Hội đâu có để yên. Chủ tịch Ủy Ban Nội An Và Các Vấn Đề Chính Phủ của Thượng Viện Hoa Kỳ lên tiếng cần phải “trừng phạt nặng”. Thương Nghị Sĩ Joe Lieberman, không thuộc đảng nào, chủ tịch Ủy Ban trên nói tình huống gây hại ngoài giờ làm phận sự có thể tạo nên mối nguy cho an ninh quốc gia. Ông sẽ tổ chức một buổi điều trần về sự kiện này.

Giám đốc Cơ Quan Mật Vụ Mark Sullivan trình có ít nhất 9 quân nhân có thể liên quan đến vụ tai tiếng này, ngoài khoảng 11 nhân viên mật vụ bị triệu hồi từ Colombia về Hoa Kỳ.

Nhưng trong số những vệ sĩ đi sát cánh với Tổng thống Obama, không có người nào dính líu vào vụ tai tiếng vừa kể. 

Hai là vụ cơ quan GSA của chánh quyền lợi dụng công qũy, lãng phí, tổ chức ăn chơi ở Las Vegas tốn 823,000 Mỹ kim. GSA là Cơ Quan Dịch Vụ Tổng Quát Hoa Kỳ có nhiệm vụ cung cấp phòng ốc và tiếp liệu cho các cơ quan của chính phủ liên bang. GSA phải ra điều trần trước liên ủy ban của Quốc Hội vì báo chí phanh phui, ông lớn, ông nhỏ, khách mời đến 300 người  của cơ quan nội dịch này hồi năm 2010 đã tổ chức một cơ hội gọi là hội nghị nhân viên liên bang, tiêu tốn của người thọ thuế tới 823,000 Mỹ kim.
 Mà thực chất là tổ chức du hí, phung phí, xa hoa tại khách sạn sang trọng ở Las Vegas. Họ phung phí công qũy, tiền thuế người dân, như quăng tiền qua cửa sổ. Họ chơi xả láng trong 4 ngày. Ăn sáng một phần 44 USD, tiền sushis 7,000 dollars, tiền xe đạp cả chục ngàn.

Du hí không chưa đủ 12 ông lớn của GSA còn muốn thực hiện một cuốn video, quay cảnh một số “quan chức” GSA hát nhạc rap, ca ngợi sự tiêu xài xa hoa của cơ quan mình, sơ sơ chỉ tốn công qũy hết 8,130 dollars cho cái video clip ấy.

Vụ thứ  ba là Bà Ngọai Trưởng Hillary Clinton bị bắt gặp nhảy múa tại vũ trường ở Colombia. Không biết xứ Colombia vốn là bến đổ lên đất liền của Tân Thế giới, sau này gọi là Mỹ châu, vui vẻ cỡ nào, mà  báo New York Post cho biết không phải mật vụ, và quân nhân tiền trạm bảo vệ tổng thống ham vui, mà Ngoại Trưởng Hillary Clinton cũng ham vui ở xứ sở này.

Báo này viết Bà Clinton là đệ nhứt phu nhân Mỹ một thời mẫu nghi thiên hạ của Mỹ, thượng nghị sĩ  đạo mạo một thời, ngọai trưởng của đệ nhứt siêu cường Mỹ, phương dịên quốc gia của Mỹ trên thế giới. Bà lại tóc để xấp xõa, nhảy nhót  tưng bừng, và uống bia xả láng với bạn bè ở thành phố du lịch Cartagena, là thành phố mật vụ ham vui gây xì căn đan, làm mở công luận cuộc họp quan trọng của TT Obama… 

Báo lá cải New York Post đăng hình hẵn hoi và cho biết chỉ vài giờ sau khi tham dự một buổi tiệc chính thức dành cho các lãnh đạo dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Các Nước Châu Mỹ, bà Clinton đã xuất hiện tại vũ trường Café Havana gần đó để “vui vẻ” cuộc đời. 

Hình ảnh  của Bà Hillary Clinton nhảy nhót ở vũ trường Café Havana  báo tung ra làm bối rối không ít chánh quyền Obama. Phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Mark Toner không trả lời câu hỏi liệu hành động của Ngoại Trưởng Clinton có thích hợp hay không, mà chỉ nói bà Clinton đã có “thời gian rất vui vẻ, và chỉ hưởng thụ một chút không khí của cuộc sống về đêm tại Cartagena với các đồng nghiệp”.

Trong một tuần lễ mà ba xì căn đan lớn nhỏ xảy ra trong chánh quyền TT Obama đúng vào mùa bầu cử đông ken tranh cử như vậy, đối thủ đâu có để TT Obama yên. Ô. Romney coi như chắc được Đảng Cộng Hòa chỉ định làm ứng cử viên tổng thống cho đảng Cộng Hòa thêm một lý do nữa để chỉ trích về sự thất bại của TT Obaam trong việc điều hành chánh quyền, qua việc quản trị quá yếu kém này, và chánh quyền quá cồng kềnh của TT Obama. 

Người ta bới ra to hơn. Ô. Darrell Issa ở Quốc Hội Mỹ nói “những gì chúng tôi thấy trong vụ này vượt qua 11 người trong nội vụ”. Vụ này liên quan đến cung cách, tác phong và hành động về an ninh quốc gia. Vì theo qui điều bảo mật Mỹ, mật vụ và những người có trách nhiệm công du không được đem gái lên phòng. Dù luật Columbia cho phép làm việc đó với điều kiện, và trả gái trước 7 giờ sáng, thì viên chức Mỹ như mật vụ cũng không được làm vì lý do qui định an ninh, bảo mật.

Chưa đủ người ta banh ra thêm. Kết quả ngọai giao của TT Obama đi họp thượng đĩnh châu Mỹ bị mờ đi  trong công luận vì vụ xì căn đan mật vụ. Báo chí cũng như quần chúng có khuynh hướng chú ý nhiều đến xì căn đan hơn là tin tích cực. 

Báo Mỹ thường theo chủ trương, có máu mới thành tin hàng đầu. Những xì căn đan trên không có máu nhưng làm mất nhiều niềm tin nơi chánh quyền của TT Obama, mà niềm tin còn quí hơn máu trong chánh trị, nhứt là trong mùa tranh cử. 

Nói theo kiều người bình dân Việt, tội cho TT Obama, quít làm cam chịu, mũi vại lái chịu đòn./.

Từ Chiến Trường Đến Chính Trường

 

Đỗ Thái Nhiên

“Động vi binh, tĩnh vi dân”.

Động ở đây là:

“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên”

(Chinh Phụ Ngâm – Đoàn Thị Điểm)

Động ở đây là tiếng đại bác ì ầm. Động ở đây là thanh âm gầm mây, thét gió của các loại chiến đấu cơ. Tuy nhiên, trong thế giới của suy tưởng chính trị, chữ “động” được hiểu một cách bao quát hơn, tinh vi và uyển chuyển hơn. Hiện tình Việt Nam đã dẫn đến nhận định rằng: hình thái “động” xoáy tim gan nhất, mênh mông và bi thảm nhất chính là nỗi lòng phẫn hận của người dân đối với chế độ CSVN độc tài toàn trị, thối nát toàn diện. Như vậy, “động” từ nòng súng đã được thay thế bằng “động” từ mối quan hệ giữa nhà cầm qyuền và quần chúng nhân dân. Việt Nam vẫn đang rất “động”.

TỔ QUỐC còn đó, DANH DỰ còn đây. TRÁCH NHIỆM bao giờ cũng là lời nguyền sắt son. Chúng ta, những chi thể của QĐVNCH phải làm gì để sông không trách núi không phiền? Tìm lại quân phục cũ, vũ khí xưa ư? Bình thản giải khuây bên ly rượu chén trà trong niềm hy vọng “tuổi trẻ” sẽ “tiếp bước cha anh” ư? Câu trả lời cho các thắc mắc vừa nêu dường như đang nằm đâu đó, dọc theo con đường “TỪ CHIẾN TRƯỜNG ĐẾN CHÍNH TRƯỜNG”.

Hiện tình quốc tế và quốc nội không cho phép chúng ta mang lại tự do dân chủ cho Việt Nam thông qua giải pháp “vi binh”. Mặt khác, Việt Nam ngày nay không là một quốc gia ở trạng thái “tĩnh” để chúng ta có thể “tĩnh vi dân”. Như vậy người quân nhân QĐVNCH không còn chọn lựa nào khác hơn là quyết định từ giã chiến trường để tiến vào chính trường nhằm đấu tranh cho nhân dân có được một đời sống hạnh phúc và thịnh vượng. Chính trường là nơi thư hùng của các loại đòn phép chính trị. Hành động chính trị được ngụy trang dưới muôn hình vạn trạng. Trong thế giới muôn hình vạn trạng kia chỉ có một chọn lựa trước hai ước mơ: vinh thân phì gia hay cách mạng xã hội. Người lính VNCH sẽ đi theo ước mơ nào? Trả lời câu hỏi này chúng ta phải tìm về cội nguồn tâm lý của quân đội. Thuở xa xưa, từ đời sống của bộ lạc đến làng xã, chúng ta thường thấy rất nhiều nhân vật chỉ biết sống cho lý tưởng trừ gian diệt bạo. Họ là những hiệp sĩ đầu tiên của xã hội loài người. Nguyễn Trãi diễn tả hào khí của những bậc hiệp sĩ kia bằng lời lẽ hào hùng như sau:

“Lấy chí nhân mà thay cường bạo,

Đem Đại Nghĩa để thắng hung tàn.”

Tinh thần hiệp sĩ là khuynh hướng sống, là tâm lý hướng thượng tự nhiên trong mỗi con người. Theo đà phát triển của nhân văn, giới hiệp sĩ lùi vào quá khứ, quân đội thành hình, vai trò người lính được xã hội đón nhận. Giống như hiệp sĩ, người lính can trường, người lính sẵn sàng chết cho lẽ phải, người lính kính già yêu trẻ, người lính rất thân mến đối với lương dân, rất cứng rắn đối với phường “sâu dân mọt nước”. Người lính ngày nay chính là hậu thân của chàng hịêp sĩ ngày xưa. Tuy nhiên không phải bất kỳ người lính nào cũng đầy ắp hiệp sĩ tính. Mối liên hệ giữa người lính và tính hiệp sĩ hoàn toàn tùy thuộc vào môi trường văn hóa của xã hội. Trong trường hợp cường quyền kiểu CSVN nhồi sọ xã hội bằng Marxism phản nhân tính thì người lính CS không thể không bị tha hóa. Lính CS không còn là hiệp sĩ nữa. Lính CS không còn là lính nữa. Lính CS trở thành công cụ bảo vệ đảng CS. Trong khi đó, lịch sử và kinh nghiệm sống đã chứng minh: xã hội Nam VN trước 1975 tuy không là một xã hội dân chủ hoàn hảo, nhưng không thể chối cãi rằng xã hội đó là một xã hội tôn trọng nhân phẩm, nhân quyền. Xã hội đó là một xã hội có nền giáo dục nhân bản và khai phóng. Giáo dục ở đây bao gồm giáo dục học đường lẫn giáo dục truyền thông đại chúng. Chế độ Đệ I cũng như Đệ II Cộng Hòa không hề nhồi sọ xã hội, không hề nhồi sọ quân đội bằng bất kỳ tà thuyết ngụy nghĩa nào. Các sự kiện trình bày ở trên đã giải thích tại sao thông thường người lính QĐVNCH có rất nhiều tính hiệp sĩ. Với tâm tình hiệp sĩ như vậy và trước cảnh sống lầm than của đồng bào tại quê nhà, người lính QĐVNCH không thể không dấn thân vào hành động chính trị. Thế nhưng chính trị nào? Chính trị xôi thịt hay chính trị là công cụ của cách mạng? Hỏi tức là trả lời. Người lính hiệp sĩ bao giờ cũng quyết tâm đấu tranh cho một VN tự do dân chủ. Người lính hiệp sĩ baogiờ cũng xem chính trị là công cụ của cách mạng. Vấn đề không là sự hoài nghi về tính hiệp sĩ và lòng yêu nước của người lính. Vấn đề chính là dấu hỏi: liệu chừng người lính QĐVNCH có gặp khó khăn nào chăng trên con đường di chuyển từ CHIẾN TRƯỜNG ĐẾN CHÍNH TRƯỜNG? Con đường đó dài, ngắn bao xa? Con đường đó là đường lên núi hay đường xuống biển? Kẻ sĩ Nguyễn Công Trứ đã trả lời những thắc mắc vừa nêu một cách gảy gọn và chính xác: chính trị là “thức kinh luân”, quân sự được tượng trưng bởi binh giáp. Con đường từ chiến trường (binh giáp) đến chính trường (kinh luân) chỉ chạy từ lồng ngực (hung trung) lên vừng trán (tâm thượng). Hoàn cảnh này, người lính hịêp sĩ sử dụng năng lực chính trị tiềm ẩn trong khối óc. Hoàn cảnh kia, người lính hiệp sĩ sử dụng năng lực quân sự bằng binh giáp dấu trong ngực áo. Quân sự hay chính trị, chiến trường hay chính trường, tất cả đều được điều động từ bộ óc và bàn tay của một con người:

“Kinh luân khởi tâm thượng

Binh giáp tàng hung trung

Vũ trụ chi nhân gian phân sự

Nam nhi đáo thử thị hào hùng”

(Nguyễn Công Trứ – Vịnh Kẻ Sĩ)

Làm thế nào có thể minh chứng rằng “kinh luân” và “binh giáp” thực sự là hai năng lực trong tự thân mỗi kẻ sĩ, kẻ sĩ thời Nguyễn Công Trứ cũng như kẻ sĩ Thế Kỷ thứ 21 tại hải ngọai? Để trả lời câu hỏi vừa nêu bài viết này kính mời bạn đọc hãy tìm hiểu mối liên hệ thống nhất giữa chiến trường và chính trường trong đời sống của mỗi người lính QĐVNCH.

Trước khi bước vào chiến trường, bài học vỡ lòng do quân trường dành cho mỗi người lính là thời kỳ huấn nhục. Bài học huấn nhục cưỡng bách người lính phải tập làm quen và chịu đựng mọi tình huống bị lăng nhục nặng nề và bị hành xác khắc nghiệt. Nhờ môn huấn nhục này, người lính VNCH vẫn giữ được tinh thần bất khuất trước vô số cực hình trong thời gian bị tù khổ sai dưới chế độ CS. Chính nhờ môn huấn nhục này, người lính VNCH vẫn duy trì được thái độ trầm tĩnh cần thiết trước những chìm nổi trong cuộc đấu tranh chính trị chống CSVN hiện nay.Như vậy, tinh thần bất khuất và thái độ trầm tĩnh là hai phẩm chất quan trọng của chiến sĩ quân sự cũng như của cán bộ chính trị. Đó là điểm hội ngộ đầu tiên giữa chiến trường và chính trường.

Trên chiến trường , tiên liệu là yếu tố quyết định thắng bại cho mỗi trận đánh. Nếu tiên liệu sai lầm người lính phải trả giá bằng máu, máu của đồng đội và của chính mình. Lệnh hành quân là tác phẩm trí tuệ rất quen thuộc đối với người lính VNCH. Trong lệnh hành quân có đủ loại tiên liệu. Từ tiên liệu tiếp vận đến tiên liệu quân số, tiên liệu thời tiết, địa hình, địa vật, tiên liệu tình báo trận liệt, phản ứng của địch trước mỗi thế công của ta. Chiến trường là môi trường cung cấp cho mỗi người lính QĐVNCH những bài học cụ thể nhất, tinh vi nhất về kỹ thuật và nghệ thuật tiên liệu. Ngày nay cuộc chiến chống CS độc tài vẫn chưa tàn. Cuộc chiến này di chuyển từ chiến trường đến chính trường. Trên chiến trường, hỏa lực quân sự là công cụ chiến đấu. Trên chính trường, truyền thông đại chúng và áp lực chính trị quốc tế là công cụ chiến đấu. Trên đấu trường quân sự, tiên liệu địch tình là trọng yếu. Trên đấu trường chính trị, tiên liệu phản ứng của công luận và tiên liệu thời điểm lịch sử chuyển mình là yếu tố then chốt. Nhìn chung, tuy khác nhau về phương pháp đấu tranh nhưng dầu là quân sự hay chính trị, khả năng tiên liệu vẫn đóng vai trò chủ chốt. Như vậy khả năng tiên liệu là người bạn thân mến của chíên sĩ quân sự cũng như của cán bộ chính trị. Đó là điểm hội ngộ thứ hai giữa chiến trường và chính trường.

Để có thể có được khả năng tiên liệu như đã trình bày ở trên, người lính phải trải qua thời gian dài ở các quân trường và nhất là trải qua những cuộc hành quân vào sinh ra tử. Tử khí trên trận địa đã cung cấp cho người lính khả năng linh cảm. Linh cảm những ổ phục kích của địch quân, linh cảm những biến chuyển của chiến sự. Bên cạnh giác quan thứ sáu nằm đằng sau hai chữ “linh cảm”, người lính còn được giáo dục và đào tạo về tham mưu, về quản trị, về kỹ thuật ngân hàng quân đội (Kỹ Thương Ngân Hàng), về quân tiếp vụ .v..v…Giác quan thứ sáu đi kèm với những hiểu biết phong phú đối với nhiều lãnh vực khác nhau, đã biến người lính thành những nhân sự đa năng và đa hiệu. Trên cao điểm của đa năng hiệu: quân sự, chính trị và kinh tế trở thành ba mặt trong đời sống linh động của một người lính. Đó là điểm hội ngộ thứ ba giữa chíên trường và chính trường.

Đức tính trầm tĩnh, khả năng tiên liệu và đa năng hiệu sẽ vô nghĩa nếu người lính không có quyết tâm phối hợp hành động. Nói đến phối hợp không thể không nói đến kỷ luật. Kinh nghịêm sống cho chúng ta thấy: những đơn vị hàng ngày chạm mặt với tử thần là những đơn vị thịên chiến và kỷ luật. QĐVNCH là quân đội trưởng thành trên chiến trường. Đó là lý do căn bản giải thích tại sao QĐVNCH có kỷ luật. Thêm vào đó là quân kỷ cứng rắn, quân luật nghiêm minh, cộng với những thao tác thường nhật về cơ bản thao diễn đã âm thầm hun đúc cho người lính QĐVNCH một tinh thần kỷ luật có tính tự giác cao độ. Nói rõ hơn, môn học về quân kỷ và quân luật mang kỷ luật đến với người lính qua cửa ngõ tinh thần. Môn thao tác về cơ bản thao diễn biến tinh thần tôn trọng kỷ luật của người lính thành một loại phản ứng tâm lý có tính phản xạ. Chính tinh thần kỷ luật này giúp cho các đơn vị quân đội vừa hoạt động độc lập vừa giữ lòng tương kính và phối hợp. Những phiên họp tham mưu của QĐVNCH từ cấp tiểu đoàn trở lên là những hình ảnh cụ thể và sinh động về tinh thần dân chủ đa nguyên. Mỗi đại đội là một nguyên. Tiểu đoàn trưởng là người có nhiệm vụ vừa bảo vệ tính độc lập của mỗi nguyên vừa tạo điều kiện để các nguyên phối hợp chiến đấu trong tình chiến hữu. Công việc tổ chức và điều hành của quân đội VNCH trước 1975 đã cho chúng ta thấy: ngay ở ngưỡng cửa của binh nghiệp, người Chuẩn Úy Trung Đội Trưởng phải trải qua một khóa học căn bản về kỹ thuật và nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy. Thế rồi theo đà phát triển của quân vụ, các sĩ quan đều lần lượt phải tiếp tục trau dồi môn lãnh đạo chỉ huy ở các lớp trung cấp và cao cấp. Chính kỹ thuật và nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy đã giúp cho quân đội VNCH gìn giữ được sự cân bằng hợp lý giữa đa nguyên và kết hợp. Như vậy, tinh thần dân chủ đa nguyên hiển nhiên là điểm hội ngộ thứ tư giữa chiến trường và chính trường.

Ngoài bốn điểm hội ngộ được trình bày khái quát ở trên, mối tương quan giữa “binh giáp” và “kinh luân”, giữa chiến trường và chính trường trong mỗi người lính VNCH còn vô số những điểm hội ngộ khác. Tuy nhiên, trong phạm vi hạn hẹp của một tiểu luận, bài viết này chỉ nêu ra bốn hội ngộ trọng yếu với chủ ý minh chứng rằng: đối với người lính VNCH, con đường từ chiến trường đến chính trường chỉ là hình thức thay đổi môi trường đấu tranh và rằng: người lính VNCH thực sự có khả năng ứng phó với mọi tình huống trong môi trường đấu tranh mới, đấu tranh chính trị. Muốn hiểu rõ hơn điều được gọi là “khả năng ứng phó” vừa kể, một lần nữa chúng ta lại phải quay về với tư tưởng Nguyễn Công Trứ:

Kinh luân khởi tâm thượng

Binh giáp tàng hung trung.

Không phải mọi người sanh ra đều có sẵn “kinh luân” và “binh giáp”. Có người không có cả “kinh luân” lẫn “binh giáp”. Có người chỉ có kinh luân nhưng không có binh giáp. Có người chỉ có binh giáp mà không có kinh luân. Riêng người lính VNCH có cả kinh luân lẫn binh giáp. Sở dĩ người lính có được hiểu biết hai mặt như vậy là vì chiến tranh VN là trận chíên muôn mặt. Người lính được các quân trường đào tạo để có khả năng ứng xử trong muôn mặt, thêm vào đó, người lính còn thâu thập được vô số kinh nghiệm về biến động xã hội do chíên tranh du kích gây ra, vô số kinh nghiệm về những tráo trở của các thế lực ngoại viện.

Giá trị cao cấp hơn hẳn trí kinh luân lẫn tài binh giáp chính là quả tim hiệp sĩ trong lồng ngực của mỗi người lính VNCH. Quả tim đó đốc thúc người lính:

-Tạ ơn những chiến hữu đã hy sinh cho dân chủ và tự do của dân tộc, đã gục ngã để mỗi chúng ta được tiếp tục tồn tại trên đất tự do, tiếp tục đấu tranh cho VN dân chủ nhân quyền.

- Tạ ơn đồng bào và quê hương VN đã tôi luyện người lính thành những người lính hiệp sĩ bền tâm phục vụ đất nước.

- Tạ ơn cộng đồng quốc tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ cộng đồng VN thành hình trên khắp thế giới. Mỗi cộng đồng Việt ,trong đó có người lính VNCH, sẽ không ngừng nỗ lực làm rạng danh đất nước VN.

Đàng sau những lời tạ ơn kính cẩn kia là tiếng nói dõng dạc và rõ ràng của lương tri và ái quốc: lời tạ ơn thành khẩn nhất phải là hành động cùng nhau đoàn kết và tích cực đấu tranh cho VN dân chủ và thịnh vượng. Bệnh tham nhũng và chia rẽ trong nội tình đảng CSVN đã được xác định như một căn bệnh ung thư(lời của cựu tổng bí thư Lê Khả Phiêu) cộng với thế bang giao dằng co giữa Việt, Mỹ, Hoa chính là thời cơ tốt đẹp nhất để mỗi người lính VNCH biến ước mơ tạ ơn thành hành động đấu tranh cụ thể, biến lòng thương nhớ Quê Mẹ thành mối tương quan đa nguyên và kết hợp giữa lính với lính và giũa lính với đồng bào thân yêu, đồng bào hải ngoại cũng như đồng bào quốc nội .

 

 

CÂU CHUYỆN THỜI SỰ 25/4/2012 – CUỘC BẦU CỬ CỘNG ĐỒNG NGÀY 15/4/2012

                 

VŨ QUANG NINH  

Cuộc bầu cử Cộng đồng Miền Nam California đã diễn ra hào hứng vào chủ nhật 15/4/2012 vừa qua. Tất cả có 51 thùng phiếu trải dài từ Los Angeles, San Bernadino, San Fernando, Orange County đến San Diego. Tổng số phiếu hợp lệ là 10,892 phiếu, chỉ có 130 phiếu bất hợp lệ. Hai liên danh tranh cử vào Hội đồng đại diện: liên danh Vì Dân và liên danh Thăng Tiến, và 6 vị tranh cử vào 5 thành viên của Hội đồng Giám sát. Kết quả Liên Danh Vì Dân do luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa thụ ủy đã đắc cử với 9922 phiếu, tỷ lệ là 91.05%. Hội đồng Giám sát đắc cử là quý ông Nguyễn Mạnh Chí, Lê Nguyễn Thiện Truyền, Phạm Ngọc Khôi, Nguyễn Tấn Dược, Trần Thanh Phong. Ông Nguyễn Mạnh Chí được 7,986 phiếu, tỷ lệ 73.20% được bầu làm Chủ tịch Hội Đồng Giám Sát. 2 Hội đồng đắc cử được đã được đồng hương đến đông kín cả nhà hàng Emerald Bay hoan hô nhiệt liệt trong buổi ra mắt ngày 22/4/2012

Trong Câu Chuyện Thời Sự hôm nay, chúng tôi xin được đưa ra một vài đặc điểm của cuộc bầu cử vừa nêu.

-       Đặc điểm thứ nhất là quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo đã hết lòng ủng hộ và yểm trợ cho cuộc bầu cử. Có đến 24 thùng phiếu đựoc đặt tại 12 Chùa, Viện tự lớn, 6 nhà xứ Công giáo, 3 nhà thờ Tin lành, 2 Thánh Thất Cao Đài và Hội quán Phật Giáo Hòa Hảo. Các tín hữu dù thuộc tôn giáo nào cũng đã ý thức được mình dù muốn dù không đều là thành phần của Cộng đồng. Ý thức chính trị và tinh thần tập thể đã làm cho các tín hữu tham gia bầu cử. Tôn giáo không làm chính trị, nhưng đã và sẽ còn tham gia các sinh hoạt chính trị. 23 đại diện cao cấp của các Hội Thánh Tin Lành Hoa kỳ và Hàng Giáo Phẩm Công Giáo Hoa Kỳ cũng đã và đang mở chiến dịch phản đối những luật lệ trái với giáo huấn của Kinh Thánh. Đó chẳng phải là một hành động có tính cách chính trị hay sao? Chúng tôi hoan nghênh các giáo hữu, các con cái chúa đã sinh hoạt trong các giáo xứ, các Hội Thánh và còn tham gia các sinh hoạt trong Cộng đồng vì chúng ta là giáo hữu Việt Nam và con cái Chúa Việt Nam.

-       Đặc điểm thứ hai là đồng hương đã sốt sắng đi bầu. Vì thiếu thùng phiếu, nhiều Chùa, nhiều Nhà thờ không đủ cho cử tri quá đông nên cử tri phải bỏ ra về vì thời gian chờ quá lâu. Ban tổ chức bầu cử đã không vận động đủ các thiện nguyện viên để mở thêm thùng phiếu.

-       Đặc điểm thứ ba là liên danh Vì Dân do luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa thụ ủy đã được đại đa số đồng hương tín nhiệm. Đặc biệt là liên danh không thắng cử đã hiện diện hôm ra mắt Tân Ban Chấp hành. Thắng cử và thất cử hai thụ ủy đã hân hoan bắt tay nhau và hứa cùng nhau cộng tác. Đó là một hành động đáng ghi nhớ nói lên sự trưởng thành chính trị của Cộng đồng chúng ta.

Đến đây chúng tôi xin mượn lời ông Phan Kỳ Nhơn Trưởng ban tổ chức bầu cử để khen ngợi và cám ơn sự góp sức góp công của mọi thành phần đã làm cho cuộc bầu cử tương đối thành công. Ông Phan Kỳ Nhơn đã nói như sau trong bài diễn văn công bố kết quả bầu cử: “Chúng tôi xin đặc biệt ghi nhận sự dấn thân và nỗ lực của các ứng cử viên đã bỏ thời giờ, nhân lực và tài lực ra tranh cử vào các cơ chế Cộng đồng với thiện chí muốn đóng góp xây dựng một Cộng đồng đoàn kết và tốt đẹp hơn. Chúng tôi cũng không thể nào quên được sự quyết tâm của những thành viên trong Ban Tổ Chức và Giám sát bầu cử đã sát cánh với nhau, họp hành liên miên từ nhiều tháng nay, quý vị đã cống hiến không biết bao là thời giờ, nhiệt huyết, nhân lực và cả tài lực vào công việc chung này, cũng như các thiện nguyện viên, đã trông coi 51 thùng phiếu cũng như những người đã tự nguyện đến kiểm phiếu suốt tuần lễ. Và sau hết, chúng tôi không thể nào không nhắc nhở đến sự quan tâm và thiện chí của 11 ngàn đồng hương cử tri, cũng chỉ vì hoài bão muốn có được một Cộng đồng đoàn kết và một Ban Đại Diện Cộng đồng vững mạnh nên đã phải sắp hàng, chờ đợi khá lâu để bỏ phiếu tại các nhà thờ, chùa, các chợ, các thương xá cũng như những nơi thị tứ đông người trong ngày chủ nhật 15 – 04 – 2012 vừa qua. Phải nói là muôn người như một, chúng ta đã dồn hết nỗ lực cho cuộc bầu cử Cộng đồng này thành công”.

Chúng ta hy vọng Hội Đồng Đại diện, Hội Đồng Giám sát cũng như mọi đồng hương trong Cộng đồng cùng nhau liên kết hợp nhất để xây dựng vững mạnh Cộng đồng và cùng nhau tranh đấu hiệu quả cho Quê Mẹ càng ngày được tự do dân chủ và nhân quyền.

Trước khi dứt lời chúng tôi phải chân thành khen ngợi và cám ơn ông Phan Kỳ Nhơn mặc dù ngoài 70 tuổi đã vẫn dấn thân, tận lực cho các sinh hoạt của Cộng đồng. Ông đã quá mệt vì cuộc bầu cử và hiện đang được điều trị tại bệnh viện.

                                                    

Miến Điện: DC Vận Hành

 

Vi Anh
Tin chấn động. Ngày 23-4-2012, Bà Aung San Suu Kyi và 42 chiến hữu dắc cử dân biểu không dự phiên họp tuyên thệ ở  Quốc Hội Miến Điện. Có người lo phải chăng nền dân chủ Miến Điện mới vừa xây đấp đang đổ vỡ. Không. Lịch sử tự do, dân chủ, kinh nghiệm sinh họat dân chủ cho thấy không phải vậy. Trái lại dân chủ đang vận hành ở Miến Điện.

Phát ngôn viên của Liên Đòan Tòan Quốc Vì Dân Chủ là ông Nyan Win và chính bà Aung San Suu Kyi  tuyên bố  nhấn mạnh rằng  không có ý định tẩy chay khóa họp quốc hội, mà chỉ  phản đối ngôn từ trong lời tuyên thệ và mong vấn đề  này có thể được giải quyết mau chóng.  Qui  vị này  chỉ yêu cầu lời tuyên thệ  phải đổi lại, dân biểu  quốc hội sẽ “tôn trọng” chứ không phải “bảo vệ” hiến pháp. 

Ai cũng biết hiến pháp nào cũng có điều khỏan tu chỉnh, tuy khó, đòi hỏi túc số biểu quyết rất cao, nhưng vẫn có quyền tu chỉnh. Hiến pháp của Miến Điện là do chế độ quân phiệt làm, thảo luận biểu quyết chỉ trong một tuần lễ, ngay trong thời kỳ đại nạn của quốc gia dân tộc, cơn bão lụt Nagis tàn phá Miến điện, chết 138,000 người, tài sản tiêu tan vô số kể. Và hiến pháp này lại dành cho quân đội 1 phần 4 tổng số ghế của Quốc Hội,quân đội cử nhiệm chớ  dân không bầu, là một trở ngại không thể chấp nhận trong tiến trình dân chủ hóa đất nước. 

Trong khi đó khi ra ứng cử Bà Suu Kyi và các chiền hữu hứa với cử tri là sẽ sửa đổi hiến pháp, xây dựng dân chủ. Nếu khi đắc cử rồi lại  buộc miệng, giơ tay lên thể “ bảo vệ” cái hiến pháp đó thì kẹt cứng sau này, không thể tu chính hiến pháp. Lực lượng đối lập phải thương lượng sửa một chữ thôi, thay vì “bảo vệ” (sauvegarder) thì dùng chữ “tôn trọng” (respecter) nhưng Tòa Bảo Hiến của Miến Điện không đồng ý.

Cũng kẹt cho TT Thein Sein, một vị tướng ra nắm chánh quyền dân sự,  người chủ trương dân chủ hóa, hòa hợo hòa giải với đối lập. TT Thein Sein đang công du Nhựt, mà ngày khai mạc tân quốc hội là vào thứ hai. Ông nói “Hôm nay là ngày 20, tôi thấy không thể nào giải quyết kịp thời”. Và trong ngày Quốc Hội họp đối lập không dự, Tổng thống Thein Sein nói với các phóng viên tại Tokyo ông không có ý định thay đổi lời tuyên thệ hiến định, nhưng vẫn cam kết với các cải cách chính trị đang diễn tiến trong nước. 

Nhứt định quí vị dân biểu đối lập thế nào cũng hiểu cái khó khăn của TT Thein Sein, không thể đưa Ông vào thế kẹt cứng. Già kén thì chẹn hom. Quân Đội là một thế lực còn rất mạnh trong quyền lực chánh trị. Khối dân biểu gốc Quân Đội chiếm đa số áp đảo trong Quốc Hội sáu trăm mấy chục người, đối lập chỉ được 43 người. Tự do, dân chủ không thể thay đổi một ngày một bữa được.

Quí vị dân biểu dù đối lập cũng biết còn nhiều trách nhiệm với dân, như cải tiến dân sinh, dân quyền, dân trí nữa, chớ không phải chỉ trách nhiệm bảo vệ  hay tôn trọng hiến pháp thôi. Có nhiểu nước dân chủ tiền tiến đâu có hiến pháp thành văn, như Anh, để chẻ chữ nghĩa ra làm đôi, giải thích hiến pháp mềm hay cứng.  

Nhưng xét bản chất những lời tuyên bố của hành pháp và đối lập, người ta thấy mâu thuẩn về lời thề nhậm chức là mâu thuẩn tương sanh chớ không phải mâu thuẫn tiêu diệt. 

Cũng như đối lập trong quốc hội bản chất là xây dựng, giám sát, ngăn chận, chớ không phải phá họai. Quyền hạn mà không kiểm sóat là hủ hóa, hủ bại ngay. Mâu thuẫn lọai này không làm cho tiến trình dân chủ thui chột, đổ vỡ mà làm cho nền dân chủ sinh sôi nẩy nở. 

Kiến nghị của  dân biểu đối lập sửa lời thề chỉ một chữ thay vì bảo vễ thành tôn trọng cũng có ý nghĩa trắc nghiệm sư thành khẩn cải tiến dân chủ của hành pháp. Đối lập còn có một thử nghiệm trước đó nữa. Phát ngôn viên của chánh đảng đối lập tuyên bố Bà Suu Kyi sẽ công du Thụy Điển đọc diển văn nhận giải Nobel Hòa bình theo lời mời của chánh quyềnThụy Điển  và đi Anh theo lời mời của Thủ Tướng Anh khi viếng Miến Diện sau cuộc bầu cử. Một thử nghiệm xem coi chánh quyền có thực tâm chuyển hóa dân chủ không, có cấp thông hành ngọai giao, hay công vụ cho vị lãnh tụ đối lập hay không, hay là chỉ cho đối lập một tự do trong vòng kiểm sóat chặt chẽ của quân phiệt. 

Nhân dân và chánh quyển của các siêu cường như Tây Âu và Bắc Mỹ cũng đang thử nghiệm thiện tâm, thiện chí dân chủ hóa của Hành Pháp Miến Điện. Và phần thưởng sẽ là gỡ cấm vận và viện trợ. Mà Bà Suu Kyi là chìa khóa. 27 nước Liên Âu dồng ý gỡ cấm vận từng phần sau cuộc bầu cử. Nhựt xóa mấy tỷ Đô la nợ cho Miến Điện trong chuyến công du Nhựt của TT Miến Điện. 

Đối lập Miến Điện tiêu biếu là dân biểu mới đắc cử cũng biết cái thế của mình. Chánh quyền quân phiệt cần có đối lập đề giảm áp lực của quốc tế. Và quan trọng hơn tạo hòa giải hòa hợp sắc tộc, dân tộc. Gần nửa thế kỷ quân phiệt chống lại các sắc tộc thiểu số chỉ làm chảy máu Miến điện mà thôi, không ai thắng ai cả. Cảnh huynh đệ tương tàn này cần phải chấm dứt để tạo nội lực dân tộc. Bà Suu Kyi tuy là một phụ nữ ốm yếu nhưng rất mạnh trong lòng dân tộc và sắc tộc. 

Tuy thế lực của Bà và dân biểu chiến hữu mới đắc cử cùng Bà trong Quốc Hội chỉ có một phần mười so với lực lương quân sự, nhưng Bà có thể đưa dân tộc đi lên, thóat khỏi vòng cấm vận của thế giới, làm cho chánh quyền có chánh nghĩa, và chính thống và cuộc chiến tương tàn gần nửa thế kỷ chấm dứt. 

Quân sự mạnh nhưng chỉ mạnh ở phía trong quốc gia thôi. Các sắc tộc ở vùng biên giới Ấn, Bengladesh, Trung quốc, Lào, Thái, các sắc tộc Nagas, Chins, Kachins, Was, Chan hay  Karen, không thừa nhận chánh quyền Miến điện, chống đối chánh quyển bằng vũ khí hay bằng bất tuân hành dân sự triển miên, từ khi Anh rút khỏi Miến Điện. 

Bà Suu Kyi là người có lợi thế giải quyết đối với những sắc tộc chống chánh quyền này. Bà Suu Kyi được niềm tin của các sắc tộc, nhờ thừa hưởng công ơn của thân phụ Bà đã có công đem lại nền độc lập cho Miến Điện. Công tác đầu tiên Bà làm sau khi đắc cử là gặp một số sắc tộc, vận động  cho đề nghị ngưng chiến của TT Thein Sein.

Xu thế thứ hai của quốc tế là ửng hộ tiến trình dân chủ hòa dịu. Không muốn có cuộc đấu tranh bằng bạo lực và thay thế bằng đấu tranh ôn hòa, có từ năm 1989 sau cuộc cách mạng nhung ở Đông Âu làm sụp đổ các chế độ CS độc tài đảng trị tòan diện. Bà Suu Kyi là một chìa khóa mở cửa cấm vận. Hầu như Liên Âu và Mỹ gỡ cấm vận cho Miến điện tùy theo mức dộ và nhịp độ cải tiến dân chủ của chánh quyền, đối với Bà Suu Kyi và Liên Minh Tòan quốc Vì Dân Chủ.

Do đó việc Bà Aung San Suu Kyi và 42 chiến hữu không dự phiên họp đầu quốc Hội, chưa tuyên thệ không phải là tiến trình dân chủ Miến Điện đổ vỡ mà nó đang vận hành./.


CÂU CHUYỆN THỜI SỰ 23-4-2012 – TƯỞNG NIỆM 30/4/1975

 

VŨ QUANG NINH

Hôm nay 23/4/2012, cách đây đúng 37 năm ngày 23/4/1975 là bắt đầu một tuần lễ thay đổi hoàn toàn tình hình tại Saigon và Miền Nam Tự do. Trước khi từ chức chiều 21 tháng 4 năm 1975 Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã hùng hồn tố cáo sự phản bội của Hoa Kỳ và chối bỏ lời hứa trách nhiệm của Tổng Thống Nixon cũng như sự bán đứng Việt Nam cho Cộng sản của ông Kissinger. Sân khấu chính trị tại Dinh Độc Lập đảo điên không ngừng. Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay thế rồi ông Dương Văn Minh, tất cả diễn biến đúng theo lá bài của các cường quốc Mỹ – Pháp. Trong khi đó quân đội anh dũng của chúng ta đã chống trả mãnh liết tại các mặt trận chung quanh Saigon, với các chiến sĩ anh hùng Mũ Đỏ – các Biệt Động Quân quyết tử, đến các chiến sĩ quả cảm của Sư đoàn 18. Hàng ngàn thây bộ đội Bắc Việt la liệt, hàng trăm đàn bà trẻ em bị chết, bị thương la khóc thê thảm tại các đồn điền cao su ở Xuân Lộc, trên các xa lộ dẫn vào Saigon. Hằng trăm chiến sĩ Dù, Biệt Động, Cảnh sát, thanh niên chiến đấu tự sát để không rơi vào tay giặc. Tình hình chiến trận quá khốc liệt, tình hình quân dân quá bi phẫn. Tất cả là máu lệ, là thịt tan là đổ nát trong tang thương, thảm khốc. Tất cả là do xâm lăng dã man của Cộng sản Bắc Việt, không phải năm 1975 mà tham vọng chiếm đoạt miền Nam đã có từ ngày 20/7/1954 khi hiệp định Giơ – ne – vơ vừa ký kết. Cộng sản phải rút hết cán binh về bên trên vĩ tuyến 17, nhưng Cộng sản Hà nội đã chôn dấu vũ khí và gài người ở lại Miền Nam. Sau đó ngày 20/12/1960, Hà nội cho thành lập cái gọi là Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam lúc đó Quân đội Hoa Kỳ chưa đổ bộ vào Việt Nam và Cộng sản công khai ồ ạt đem quân vào khủng bố và đánh phá nhân dân Miền Nam. Họ giết hại cả phụ nữ và trẻ em, chặt đầu, chôn sống người vô tội. Và ngày 30/4/75 sau khi đã lội trong máu, và đạp lên núi xương của chính đồng bào mình, họ đã đạt được ý đồ là làm chủ được cả nước, không phải để đem lại độc lập tự do hạnh phúc cho dân tộc. Nhưng mục đích của Cộng sản là áp đặt chủ nghĩa Mác Lê và thiết lập một chế độ chuyên chính vô sản lên toàn thể Tổ Quốc Việt Nam. Do đó sau khi chiếm đoạt miền Bắc năm 1954 họ đã thực hiện bần cùng hóa nhân dân, thực thi cải cách ruộng đất, đấu tố tiêu diệt dã man tất cả tri phú địa hào, phế bỏ quyền tư hữu, hợp tác hóa công nông nghiệp. Sau khi chiếm Saigon, Cộng sản cho đi tù cải tạo tất cả quân cán chính Miền Nam, triệt hạ tư sản mại bản, và thi hành hộ khẩu bao cấp để kiểm soát bao tử người dân. Bị áp bức, bị dồn vào đường cùng, bị tước đoạt tự do và tất cả tài sản, hàng ngàn đồng bào đã bỏ nước ra đi.

Trong lịch sử của dân tộc chúng ta và cả trong lịch sử cận đại của thế giới, không có một cuộc đào thoát tập thể vĩ đại nào như cuộc chạy trốn Cộng sản để được sống tự do như cuộc vượt biển vượt biên của cả triệu người Việt Nam suốt từ 1975 cho đến giữa thập niên 90. Đồng bào Việt của chúng ta đã chấp nhận sóng dữ, đói khát, bệnh tật, hải tặc hung bạo, họ đã lao vào chết để được sống tự do.

Tính từ 1975 đến 1995, theo thống kê của Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, số người tỵ nạn Cộng sản cả Đông Dương mà đại đa số là Việt Nam đã lên tới trên 1 triệu 300,000 người. Theo ước lượng của các nhà quan sát hàng hải, con số thuyền nhân bị chết chìm trong biển cả vì bão, vì đói, lạnh, bị hải tặc giết hoặc chết dần trên các hoang đảo có thể lên tới trên nửa triệu.

Thảm cảnh chiến tranh và thảm cảnh của thuyền nhân bộ nhân tỵ nạn đều do tập đoàn Cộng sản Hà Nội gây nên. Cho nên tất cả thống khổ lầm than lạc hậu, phân hóa của cả một dân tộc là do tập đoàn Cộng sản tạo nên. Tác giả là chính họ. Họ đã dùng “Mác Lê” từ Mạc Tư Khoa đâm xoáy vào trái tim Mẹ Việt Nam để máu lệ chan hòa bao thập niên. Tưởng niệm 30/4 là để ghi tâm khắc cốt tội ác của Cộng sản.

Hiện nay Cộng sản vẫn dùng lừa dối và bạo lực để bấu chặt lấy quyền bính. Tưởng niệm 30/4 để chúng ta và con cháu chúng ta cùng nhau kiên trì tranh đấu cho bằng được một Quê Mẹ Việt Nam không hận thù, không bạo lực, không Cộng sản.

 

Lễ Ra Mắt Tân Hội Đồng Đại Diện Và Tân Hội Đồng Giám Sát CĐNVQG Nam Cali 2012-2015

Diễn văn của trưởng ban tổ chức bầu cử CĐNVQG Nam Cali 2012-2015

Kính thưa: Quí vị Lãnh đạo Tinh thần, quí vị Trưởng thượng,

                  Quí vị  Đại diện CĐ, Hội đoàn, Đoàn thể, Tổ  chức   

                  Quí cơ quan truyền thông, quí đồng hương và quí vị UCV

 

Thay mặt BTC Bầu Cử, chúng tôi xin chân thành càm tạ sự hiện diện của toàn thể quí vị trong buổi công bố kết quả bầu cử các cơ chế CĐ nhiệm kỳ 2012-2015 cũng như buổi Ra Mắt tân HĐ Đại Diện cũng như Tân HĐ Giám Sát. Sự hiện diện của quí vị nói lên lòng quan tâm của quí vị đến công việc chung của CĐ và là niềm khích lệ lớn lao cho Ban Bầu Cử chúng tôi.

 

Nơi đây chúng tôi xin đặc biệt cám ơn quí vị Linh mục, Mục sư quản nhiệm các nhà thờ, quí Hòa Thượng viện chủ các chùa, quí Hiền tài coi sóc các thánh thất Cao Đài, quí vị  lãnh đạo Phật giáo Hòa Hảo, cũng như BGĐ các chợ VN, các Thương Xá, các mạnh thường quân, quí hội đoàn và đồng hương đã đóng góp nhân, tài, vật, lực, phương tiện, thời giờ, nhất là cho mượn địa điểm đặt thùng phiếu để Ban Bầu Cử có thể tổ chức 51 thùng phiếu trải dài suốt miền Nam Cali. Chúng tôi cũng xin chân thành cám ơn Ban Trị Sự Châu Đạo Cao Đài, Ban Trị Sự Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân, Thư Viện VN, LHCCS đã cho mượn trụ sở để tiếp UCV, để  họp hành, để tổ chức các buổi tranh luận, để đếm phiếu v.v… Chúng tôi xin cám ơn tất cả  các cơ quan truyền thông đã yểm trợ cho việc quảng bá và vận động cho việc bầu cử, đặc biệt là các đài truyền hình VNA, Global, Hồn Việt, SET và các đài phát thanh như Little Saigon Radio, Radio Bolsa,Việt Star Radio, các trang mạng như  Free VN net, Sức Mạnh CĐ, tuần báo Việt Tide và Việt Star, các nhật báo như Việt Báo, Viễn Đông, Saigon Nhỏ… Xin Ơn Trên Ban Phước cho tất cả quí vị đã đóng góp vào công việc chung và xin đồng bào ủng hộ đặc biệt nhưng cơ sở truyền thông, cũng như những cơ sở thương mại đã  đóng góp vào việc chung của CĐ.

 

Nơi đây chúng tôi cũng xin đặc biệt ghi nhận sự dấn thân và nỗ lực của các UCV đã bỏ thời giờ, nhân lực và tài lực ra tranh cử vào các cơ chế CĐ với thiện chí muốn đóng góp xây dựng một cộng đồng đoàn kết và tốt đẹp hơn. Chúng tôi cũng không thể nào quên được sự quyết tâm của những thành viên trong BTC và Giám sát bầu cử đã sát cánh với nhau, họp hành liên miên từ nhiều tháng nay, quí vị đã cống hiến không biết bao nhiêu là thời giờ, nhiệt huyết, nhân lực và cả tài lực vào công việc chung này, cũng như các thiện nguyện viên, đã trông coi 51 thùng phiếu cũng như những người đã tự nguyện đến kiểm phiếu suốt tuần lễ qua tại trụ sở báo Diễn Đàn Giáo Dân. Và sau hết, chúng tôi không thể nào không nhắc nhớ đến sự quan tâm và thiện chí của gần 11 ngàn đồng hương cử tri, cũng chỉ vì hoài bão muốn có được một cộng đồng đoàn kết và một Ban Đại Diện CĐ vững mạnh nên đã phải sắp hàng, chờ đợi khá lâu để bỏ phiếu tại các nhà thờ, các chợ, các thương xá cũng như những nơi thị tứ đông người trong ngày chủ nhật 15-04-2012 vừa qua. Phải nói là muôn người như một, chúng ta đã dồn hết nỗ lực cho cuộc bầu cử CĐ này thành công.

 

Thưa quí vị, thắng cử là điều mọi người mong ước nhưng trong bất cứ cuộc tranh đua nào cũng phải có kẻ thắng người thua, chúng tôi mong rằng các UCV thắng cử không vì thế mà tự tôn cũng như những người không trúng cử kỳ này không vì thế mà tự ti, thất vọng nản chí. Để rút ưu khuyết điểm hầu tránh những sơ sót đáng tiếc đã xẩy ra trong quá khứ, Ban Tổ Chức và Giám Sát Bầu Cử kỳ này đã dành ra 8 ngày, trước khi công bố danh sách UCV chính thức, để cho đồng hương khiếu nại về tư cách UCV. Trong thời gian này nếu bất cứ ai có khiếu nại gì về UCV xin cho chúng tôi biết ngay, chúng tôi sẽ cứu xét và nếu có bằng chứng cụ thể về việc phạm pháp hay tư cách đạo đức của UCV, theo Nội qui CĐ chúng tôi sẽ truất quyền ứng cử của UCV hay Liên danh đó ngay. Nhưng rất vui là suốt thời gian đó, cũng như trong ngày bầu cử và những ngày đếm phiếu vừa qua, chúng tôi rất mừng  báo cáo với đồng hương là chúng tôi không hề nhận được bất kỳ văn kiện hay biên bản khiếu nại nào về việc vi phạm nội qui bầu cử của các UCV cũng như của Ban Bầu Cử do Ban Giám Sát bầu cử chuyển qua.

Tuy nhiên nơi đây, chúng tôi cũng xin thành thật cáo lỗi với các đồng hương  công giáo, vì đã không để thùng phiếu tại thánh lễ Kính Lòng thương xót Chúa tại Đại Học Long Beach vì không được phép của BTC cũng như các thánh lễ chủ nhật làm vào chiều thứ Bẩy tại các nhà thờ VN trong vùng như 2 năm về trước, H ĐLT đã làm vì lý do thiếu nhân sự.

 

Chúng tôi tin chắc rằng toàn thể cử tri đồng hương cũng như Ban Bầu Cử, đều đặt hết kỳ vọng vào tân Ban Đại Diện Cộng đồng nhiệm kỳ 2012-2015, mong mỏi rằng quí vị sẽ dồn hết nỗ lực để phục vụ, mang lại lợi ích chung cho Cộng đồng và tiếp tay tranh đấu hữu hiệu cho quê hương dân tộc sớm có tự do dân chủ và nhân quyền, để đáp lại công lao vất vả, tấm thịnh tình và lòng ưu ái mà các hội đoàn và đồng hương đã bỏ ra trong cuộc bầu cử này, xin quí vị hãy sánh vai nhau, thương yêu nhau, nhường nhịn nhau, hợp tác chặt chẽ với nhau để tích cực làm việc, mang lại nhiều thắng lợi cho tập thể người Việt tại nam Cali. Tuyệt đối quí vị đừng để cử tri, đồng hương phải ngao ngán thất vọng như đã từng xẩy ra nhiều lần trong quá khứ.

 

Sau cùng, chúng tôi kêu gọi quí vị lãnh đạo tinh thần, quí cơ quan truyền thông, quí hội đoàn, đoàn thể và quí đồng hương xin hãy tiếp tay yểm trợ cho tân Ban Đại Diện CĐ này để họ có thể chu toàn nhiệm vụ rất nặng nề  và đa đoan mà CĐ chúng ta sẽ trao phó cho họ. Chúng ta nhất định không mang con bỏ chợ, mà hãy tiếp sức với tân Ban Đại Diện CĐ để đóng góp vào phúc lợi chung của CĐ này.

 

Chúng tôi xin trân trọng kính mời quí vị UCV đắc cử vào hai Hội Đồng Đại Diện và HĐ Giám Sát xin lên sân khấu để trình diện đồng hương. Xin đồng hương cho một tràng pháo tay để chúc mừng quí vị tân cử.

 

Xin mời vị Thụ Ủy Liên danh Vì Dân, đồng thời cũng là Chủ tịch CĐ, Ls Nguyễn Xuân Nghĩa có đôi lời với đồng hương.

 

Xin mời chủ tịch HĐGS, hoặc vị đại diện có số phiếu cao nhất, có đôi lời với đồng hương.

 

Trân trọng kính chào và cám ơn quí vị.

 

Phan Kỳ Nhơn

Biên Bản Kết Quả Bầu Cử

CÁC CƠ CHẾ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QG NAM CALI

Nhiệm Kỳ 2012-2015 – Ngày Chủ Nhật 15-04-2012

 

Tham chiếu thể lệ bầu cử của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia        Nam Cali

 

Sau khi các thiện nguyện viên thuộc các tổ chức, hội đoàn và cá nhân trong CĐ tình nguyện đến phụ giúp phần đếm phiếu suốt tuần lễ qua, dưới sự giám sát chặt chẽ của Ban Giám Sát Bầu Cử và sự chứng kiến của đại diện hai liên danh, phiá LD Thăng Tiến có Ô. Nguyễn Tấn LạcCô Kathy Huỳnh, phiá LD Vì Dân có Ls Trần Sơn HàÔ. Richard Bùi Đẹp, cũng như sự chứng kiến của một số UCV đơn danh như Ô. Lê Ng.T. Truyền, Phạm Ngọc Khôi, Nguyễn Manh Chí, Trần Thanh Phong  và một số truyền thông vãng lai.

 

BAN TỔ CHỨC BẦU CỬ XIN TRÂN TRỌNG CÔNG BỐ:

 

I -TỒNG SỐ PHIẾU CỬ TRI ĐÃ BẦU TẠI 51 THÙNG PHIẾU, TRẢI DÀI TỪ LOS ANGELES, SAN BERNARDINO, SAN FERNANDO, ORANGE COUNTY  ĐẾN SAN DIEGO,  LÀ :     10,897 PHIẾU; SỐ PHIẾU BẤT HỢP LỆ: 130 PHIẾU - tỉ lệ:  1,19%

A- ỨNG CỬ HỘI ĐỒNG ĐẠI DIỆN GỒM 2 LIÊN DANH  

1-     LIÊN DANH  THĂNG TIẾN                       đạt số phiếu:      845-

2-     LIÊN DANH  VÌ DÂN                                     đạt số phiếu:. 9,922-

B-ỨNG CỬ HỘI ĐỒNG GIÁM SÁT GỒM 6 ĐƠN DANH

1-   ỨCV NGUYỄN MẠNH CHÍ                     đạt số phiếu:  7,986-

 2-   ỨCV NGUYỄN TẤN DƯỢC                      đạt số phiếu: 6,986-

3-     ỨCV PHẠM NGỌC KHÔI                          đạt số phiếu: 7,083-

4-     ỨCV TRẦN THANH PHONG                   đạt số phiếu:  6,469-

5-     ÚCV LÊ NGUYỄN THIỆN TRUYỀN   đạt số phiếu:  7,778-

6-     ỨCV HỒ TRỌNG THĂNG                         đạt số phiếu:  6,194-

 

II – KẾT QUẢ

A- Liên danh đắc cử vào Hội Đồng Đại Diện CĐNVQG – Nam Cali:

    LIÊN DANH VÌ DÂN do Ls NGUYỄN XUÂN NGHĨA làm thụ ủy  

                                                                đạt số  phiếu: 9,922; tỉ lệ:  91,05%

B- Năm đơn danh đắc cử vào Hội Đồng Giám Sát CĐNVQG – Nam Cali:

1- ỨCV NGUYỄN MẠNH CHÍ                đạt số phiếu: 7,986; tỉ lệ 73,28%

2- ÚCV LÊ NGUYỄN THIỆN TRUYỀN đạt số phiếu: 7,778; tỉ lệ 71,37%

3- ỨCV PHẠM NGỌC KHÔI                   đạt số phiếu: 7,083; tỉ lệ 64,99% 

4- ỨCV NGUYỄN TÂN DƯỢC                đạt số phiếu: 6,986; tỉ lệ 64,10%

5- ỨCV TRẦN THANH PHONG             đạt số phiếu: 6,469; tỉ lệ 59,36% 

 

Làm tại Little Saigon, ngày 21-04-2012

 

Người thực hiện Biên Bản-     Trưởng BTC Bầu Cử-      Trưởng Ban Giám Sát 

TTK/ BTC Bầu Cử                       

  Trần Thanh Hiền             Phan Kỳ Nhơn           Phan Tấn Ngưu

                      

 Bản sao gửi: Các Liên danh và các Đơn danh để tri hành

                                Giới truyền thông báo chí để nhờ phổ biến